Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Những sáng kiến phòng bệnh chết nhanh trên tiêu

Bệnh chết nhanh đang làm cho hàng loạt vườn tiêu Đông Nam bộ bị chết. Các vườn tiêu ở Châu Đức (Bà Rịa – Vũng Tàu) cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, nhờ đẩy mạnh áp dụng các giải pháp kỹ thuật do các nhà khoa học khuyến cáo, cũng như những sáng kiến riêng của nông dân trong việc phòng bệnh, người trồng tiêu Châu Đức đang dần đẩy lùi được căn bệnh này.

Những sáng kiến phòng bệnh chết nhanh trên tiêu

Trồng xen với cà phê

Trước đây, phần lớn diện tích tiêu ở Châu Đức được trồng theo kiểu chuyên canh. Nhưng trước rủi ro về giá cả, về dịch bệnh, người trồng tiêu bắt đầu tính tới việc trồng xen canh tiêu với cà phê. Theo đó, thay vì trồng 1.700-2.000 nọc tiêu/ha như trước đây, người ta đã giảm mật độ tiêu xuống còn 900-950 cây, và trồng thêm vô đó 900-950 cây cà phê. Cứ mỗi cây tiêu kèm một cây cà phê. Gốc tiêu luôn được vun cao, còn đất ở gốc cà phê thì hõm xuống một chút.

Cây cà phê có đặc tính hút nước tốt, trong khi cây tiêu lại kỵ úng. Vì thế, với cách làm gốc như trên, khi tưới vào gốc tiêu, nước sẽ nhanh chóng chảy xuống chỗ gốc cây cà phê. Nhờ đó, gốc cây tiêu sẽ không bị úng nước, góp phần làm giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Mặt khác, việc giảm mật độ cây tiêu trong vườn do trồng xen với cà phê cũng góp phần làm giảm đi khả năng lây lan dịch bệnh từ cây tiêu này sang cây tiêu khác.

Ông Nguyễn Ngà, nông dân ở thôn Tân Bình (xã Bàu Chinh) cho biết, niên vụ vừa rồi, trên 2,3 ha đất vườn trồng xen tiêu và cà phê, ông thu được 3 tấn tiêu và 2,8 tấn cà phê (vườn của ông Ngà đang bắt đầu hồi phục sau đợt tiêu chết mấy năm trước, nên sản lượng tiêu mới có như vậy). Với giá tiêu 110 ngàn đ/kg, giá cà phê trên 50 ngàn đ/kg, tổng doanh thu của ông Ngà là 450 triệu đồng. Trừ chi phí, còn lời gần 300 triệu đồng. Như vậy, mỗi ha thu lời trên 100 triệu đồng.

Anh Lê Văn Tứ, cán bộ nông nghiệp xã Bàu Chinh cho biết, hiện đã có tới 80% vườn tiêu ở xã này được xen canh cây cà phê.

Mẹo lạ của một lão nông

Ở thôn Tân Bình, xã Bàu Chinh, vườn tiêu của ông Lê Dũng chưa bao giờ dính phải dịch bệnh chết nhanh, dù các vườn khác trong thôn đều đã từng bị căn bệnh này “quét” qua. Có được điều này, ngoài việc tuân thủ chặt chẽ những khuyến cáo của các nhà khoa học, ông Lê Dũng còn chịu khó tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ và mạnh dạn áp dụng những cách phòng chống bệnh chết nhanh độc đáo ngay trên khu vườn của mình.

Qua sách vở, ông Dũng biết được rằng loại nấm Phytophthora gây bệnh chết nhanh trên tiêu là dạng nấm thủy sinh, dễ phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao. Bởi thế, điều quan trọng nhất đối với ông là không để cho vườn của mình bị ẩm ướt kéo dài, dù là sau khi tưới hay sau mỗi trận mưa.

Một lần, khi đào một cái rãnh thoát nước giữa 2 gốc tiêu (2 gốc tiêu cách nhau 2,5 m), ông Dũng phát hiện thấy khá nhiều rễ vươn ra từ 2 gốc tiêu đó. Cho rằng rễ tiêu vươn đến tận đây thì có thể tưới nước, bón phân ngay tại đó, cây tiêu vẫn có thể hút được, ông Dũng thực hiện ngay điều này. Cách làm đó đã giúp cho các cây tiêu giảm được nguy cơ bị úng gốc. Bên cạnh đó, ở mỗi gốc tiêu, ông tạo một cái bồn nhỏ để tiêu nước cục bộ sau mỗi cơn mưa. Nhờ đó, sau mỗi trận mưa, trong khi nhiều vườn tiêu trong thôn cứ xâm xấp nước, thì vườn tiêu nhà ông Dũng đã nhanh chóng trở nên khô ráo.

Việc tưới nước trong vườn tiêu cũng được ông Dũng nghiên cứu rất kỹ càng. Mỗi lần tưới ông đều để tâm quan sát và nhận thấy đất đỏ bazan có khả năng giữ nước tốt hơn là tiêu thoát nước, bởi trong đất có sét. Nếu dùng vòi tưới thẳng xuống đất, sẽ làm đất bị xói, cấu tượng lớp đất mặt bị phá vỡ, tạo điều kiện cho các hạt sét bít kín các khe hở, hình thành lớp váng trên bề mặt, khiến cho khả năng tiêu nước bị chậm hẳn lại. Từ đó, ông Dũng luôn gom nhặt lá và cành cây trong vườn bỏ lên từng bồn tưới, rồi cho nước tưới chảy qua cành lá xuống đất, nên đất không bị xói, không tạo thành lớp váng trên bề mặt, nước tưới vào bồn được thoát đi rất nhanh.

Từ 3 năm nay, ông Dũng đã giới thiệu những cách chống ẩm đó cho nhiều hộ trong vùng làm theo hiệu quả.

Theo: Nông nghiệp Việt Nam

Chuyên mục
Cà phê Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Vườn cà phê ba lớp giống và hai tầng cây – Mô hình sản xuất bền vững kiểu mới

Hay tin mới đây, Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả (Sở NN-PTNT Lâm Đồng) thử nghiệm thành công mô hình sản xuất cà phê hoàn toàn mới – mô hình vườn cây ba lớp giống và hai tầng cây, chúng tôi đã về Bảo Lộc và Bảo Lâm để tìm hiểu. Qua đó, theo nhận định bước đầu của các chuyên gia, rất có thể đây là mô hình tốt cho vùng nguyên liệu cà phê Lâm Đồng trong tương lai.

Vườn cà phê ba lớp giống và hai tầng cây – Mô hình sản xuất bền vững kiểu mới
Vườn cà phê ba lớp giống và hai tầng cây – Mô hình sản xuất bền vững kiểu mới

Thay vì trồng thuần một loại giống cà phê như lâu nay, mô hình sản xuất mới do Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả (thuộc Sở NN-PTNT Lâm Đồng) thử nghiệm này có đến 3 lớp cây giống cà phê – giống chín sớm (đúng vụ), giống cho thu hoạch hơi muộn và đặc biệt là giống cho thu hoạch muộn (gần như là trái vụ). Đây được xem là mô hình sản xuất cà phê theo hướng bền vững hoàn toàn mới ở Việt Nam.

Cà phê Tây Nguyên bắt đầu chín từ đầu tháng 10 hằng năm, và thời gian thu hoạch trong vòng trên dưới một tháng. Hiện trên vùng đất này, nhà vườn trồng phổ biến các giống cà phê chín đúng vụ (đầu tháng 10) như TS-1, TR-11… Tuy nhiên, trong thực tế, do điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng…, vùng nguyên liệu cà phê Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) “tạo” nên những giống chín muộn rất đáng quan tâm như TR-9, TR-16… Đồng thời, ở giữa các giống chín sớm TS-1, TR-11 và các giống chín muộn TR-9, TR-16 là các giống “trung gian” như TS-4, TR- 4… Trên cơ sở nghiên cứu các giống cà phê TR-16, TR-9… trong nhiều năm qua, đến cuối năm 2008, cùng với thử nghiệm trên diện tích 0,5ha tại Trung tâm Thực nghiệm Nông lâm nghiệm ở xã Đạm Bri (huyện Bảo Lâm), Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng cũng đã thuyết phục một hộ dân có vườn cà phê ở xã Lộc Tân (Bảo Lâm) là ông Nguyễn Xuân Bách (trú tại phường Lộc Sơn, Bảo Lộc) tiến hành ghép cây giống theo kiểu “ba vòng” trên diện tích 6ha. “Và cho đến lúc này, sau ba năm thực hiện thử nghiệm mô hình vườn cà phê ba lớp cây giống tại Trung tâm Thực nghiệm Nông lâm nghiệp và đặc biệt là tại vườn của ông Bách, Trung tâm chúng tôi mạnh dạn công bố là kết quả mang lại là khá tốt về nhiều mặt” – Kỹ sư Phan Hải Triều – GĐ Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng, nói.

Cách làm được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả đưa ra là: Dựa vào địa hình và đặc điểm sinh trưởng của các giống cà phê hiện có, ở khu vực trung tâm của trang trại giữa đỉnh đồi hoặc lưng chừng đồi được trồng các giống chín muộn TR-9, TR-16; vòng giữa là các giống chín hơi muộn TS-4, TR-11; và vòng ngoài cùng ở phía chân đồi là các giống chín đúng vụ TS-1, TR-11.

Không những có khả năng chịu hạn cao mà các giống cà phê chín muộn TR-9, TR-16 qua thử nghiệm tại Lâm Đồng còn cho năng suất từ 6 – 7 tấn/ha, cao hơn 3 – 4 tấn/ha so với các giống cà phê được trồng phổ biến hiện nay ở Lâm Đồng. Cứ mỗi hecta cà phê “ba lớp cây giống” được trồng xen 100 gốc bơ, trung bình mỗi gốc bơ cho thu hoạch 2 tạ mỗi năm và với giá 15.000 đồng/kg được thu mua tại vườn như hiện nay thì thu nhập của các chủ trang trại được tăng lên rất đáng kể.Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Cây ăn quả cho thấy, các giống cà phê chín muộn là các giống có khả năng chịu hạn khá tốt (đến tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau, Tây Nguyên hầu như không có mưa nhưng TR-9, TR-16 vẫn cho trái lớn, nhân đạt chuẩn). Do vậy, việc bố trí trồng các giống chín muộn trên vùng đất cao trên đỉnh đồi ở “vùng lõi” quanh sân phơi, gần lán trại là hợp lý. Ở “vùng đệm” lưng chưng đồi, các giống có khả năng chịu hạn ít hơn là TS-4, TR-4, trái chín trong vòng tháng 11 cũng chính là “vụ đệm” trong thu hoạch cà phê của người nông dân. Tiếp đến, ở vòng ngoài cùng, vùng thấp nhất của quả đồi được bố trí trồng các giống TS-1, TR-11 – các giống ít có khả năng chịu hạn, trái chín đúng vụ, sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt trong môi trường có độ ẩm còn lớn (chân đồi). Với ba lớp cây giống cà phê theo kiểu này, thời gian thu hoạch sẽ được kéo dài trong vòng từ 3 – 4 tháng (từ đầu tháng 10 năm trước đến cuối tháng 1 năm sau) trước hết là làm giảm áp lực về công lao động (thường thì vào vụ cà phê, nhà vườn Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn trong việc thuê mướn công thu hái); đồng thời, giúp làm giảm “áp lực” tâm lý “xanh nhà hơn già đồng” của người nông dân trước nạn trộm cắp cà phê diễn ra ngày một phổ biến (vì cà phê chín đến đâu thu hoạch đến đó) để từ đó nâng cao chất lượng cà phê nguyên liệu. Và đặc biệt, vườn cà phê “ba lớp” kiểu này còn có thể điều tiết được giá cả thị trường nếu thị trường cà phê nhân trong nước và quốc tế vào vụ thu hoạch chính có nhiều biến động (nhờ ở việc thu hoạch rải ra trong nhiều tháng). Đó là chưa nói đến việc có thể hiệu quả kinh tế của vườn cà phê ba lớp cây giống này cũng sẽ được cao hơn nhờ ở thực tế thiếu hụt nguồn hàng trên thị trường cà phê thế giới vào cuối vụ.

Ông Hùng ở xã Lộc An, người đồng ý cho Trung tâm Cây ăn quả tiếp tục tiến hành thử nghiệm mô hình vườn cà phê ba lớp cây giống trên diện tích hơn 20ha trong vụ này, cho biết: “Tôi cũng đã tham khảo nhiều mô hình trồng cà phê ở Tây Nguyên nhưng chưa nhìn thấy ở đâu có cách làm như thế này của Trung tâm. Đây là cách làm hoàn toàn mới; mà thường thì mới, có thành công nhưng cũng xen lẫn thất bại; nhưng tin rằng, mô hình này được triển khai trên diện tích hơn 20ha của tôi sẽ thành công!”. Theo cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng thì ông Hùng là một trong những hộ có rất nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nhất là cây cà phê, nên Trung tâm rất tin tưởng khi chọn vườn cà phê nhà ông để triển khai mô hình “cà phê ba lớp cây” mà Trung tâm đang theo đuổi. Còn theo ông Hùng, người trồng cà phê lâu năm có nhiều kinh nghiệm, vườn cây nhà ông đang trong giai đoạn cho thu hoạch và khá sung mãn nên việc ghép cành để tạo vườn cà phê ba lớp cây cho thu hoạch từ chính vụ (chín sớm) đến “sau vụ” (chín hơi muộn) và “muộn vụ” (chín muộn) rất có khả năng mang lại những kết quả khả quan bất ngờ. Cũng theo các cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng, việc tạo nên vườn cây giống cà phê ba tầng này chỉ nên thực hiện ghép cải tạo trên gốc cây đang trong thời kỳ sung mãn, không nên ghép trên gốc cà phê đã già cỗi, thoái hóa; và, trang trại cà phê hơn 20ha của ông Hùng ở xã Lộc An trở thành “đích ngắm” của mô hình này là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Không chỉ dừng lại ở “ba lớp” cây giống, với vườn cà phê của ông Hùng, dự định của Trung tâm trong tương lai là còn chọn một phần diện tích hợp lý để trồng xen cây ăn quả như sầu riêng hoặc bơ, tạo thành mô hình “vườn cây ba giống cà phê và hai tầng”. “Nếu chọn giống bơ thì nên trồng ghép vào mỗi hecta khoảng 100 cây giống. Như vậy, chúng ta sẽ tạo ra mô hình cà phê ba lớp có tỷ lệ 25% cây giống chín sớm, 50% giống chín hơi muộn và 25% cây giống chín muộn, cùng với 100 cây bơ cho 1ha thì không chỉ giá trị kinh tế của vườn cây được nâng cao mà vườn cây còn đảm bảo việc chắn gió, chống xói lở…” – kỹ sư Phan Hải Triều kỳ vọng.

Hiện nay, mô hình vườn cà phê “ba lớp giống trồng xen cây ăn quả này” chỉ mới là manh nha ở Lâm Đồng, và là mô hình lần đầu tiên được Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả thuộc Sở NN- PTNT Lâm Đồng thử nghiệm tại vùng cà phê trọng điểm của tỉnh là huyện Bảo Lâm. Dẫu là mới, nhưng mô hình này đầy triển vọng là nhận định của nhiều nhà chuyên môn ở Tây Nguyên tại một số diễn đàn về nông nghiệp và phát triển trang trại được tổ chức trong thời gian gần đây.

Theo báo Lâm Đồng

Chuyên mục
Cà phê Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Tái canh cà phê và bài toán bảo đảm sản lượng

Theo thống kê, có khoảng 100.000 hec ta cây cà phê hiện nay tại Việt Nam sẽ phải trồng lại và tới năm 2020, khoảng hơn một nửa diện tích cây cà phê, tức 250.000 hec ta phải trồng lại trong tổng diện tích cà phê cả nước hiện khoảng 500.000 hec ta.

Điều này sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng cà phê trong những năm tiếp theo của Việt Nam? Và liệu nó có ảnh hưởng như thế nào đến vị thế của cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới?

Tái canh cà phê và bài toán bảo đảm sản lượng

Tầm quan trọng của việc tái canh cà phê

Các kỹ sư của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đang tiến hành trồng lại 180 ha cà phê, cho đến nay đã tái canh được 100 ha. Theo Viện này thì việc tái canh cà phê, cải tạo các vườn cà phê già cỗi là cần thiết.

Hiện nay, cả nước có trên 500 ngàn ha trồng cà phê, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong đó có 100 ngàn ha cà phê trên 20 năm tuổi cần phải trồng lại và 150 ngàn ha từ 15 – 20 năm tuổi đã có biểu hiện gìa cỗi. Thêm vào đó, việc phát triển diện tích cà phê ồ ạt mà không quan tâm tới chất lượng giống, quy hoạch vùng chuyên canh, bên cạnh đó là thiếu kỹ thuật canh tác của người nông dân đã khiến giá trị cây cà phê ngày càng giảm

Vì vậy, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, tái canh diện tích cà phê già cỗi là vấn đề tất yếu và cần phải có sự hy sinh vì lợi ích lâu dài, để bảo đảm năng suất và chất lượng của cà phê.

Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ năm 2000 – 2010, diện tích trồng cà phê tăng khoảng 2%/năm. Với mức tăng này có thể giúp Việt Nam giữ vững sản lượng trên 1 triệu tấn/năm đến năm 2018. Tuy nhiên, nếu việc tái canh không được thực hiện ngay từ lúc này thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng, kim ngạch xuất khẩu cũng như vị thế của cà phê Việt Nam trên thế giới.

Tái canh cà phê và bài toán về chi phí, đảm bảo sản lượng xuất khẩu

Quá trình tái canh dẫn đến thực tế là sản lượng cà phê sẽ bị sụt giảm đáng kể do một phần lớn diện tích cây cà phê già cỗi bị chặt bỏ để trồng mới. Bài toán đặt ra là làm thế nào để đảm bảo mục tiêu xuất khẩu, giữ được thị phần trên thị trường thế giới và bên cạnh đó là đời sống của người trồng cà phê sẽ ra sao khi mà trong vòng 3 đến 5 năm, cây cà phê mới cho thu nhập.

Ông Lương Văn Tự, chủ tịch Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam cho biết: “Khi tái canh, nếu tái canh trên diện rộng thì sẽ ảnh hưởng đến sản lượng cà phê nói chung và xuất khẩu nói riêng. Kinh nghiệm của Colombia khi họ tái canh trên diện rộng thì từ 12.3 triệu tấn/ 1 năm xuống còn mức thấp nhất là 7.3 triệu tấn/năm.”

Theo tính toán của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam, nếu như muốn tái canh, mỗi ha cà phê cần ít nhất 100 triệu đồng. Trong khi đó ở Việt Nam, có tới 90% diện tích cà phê được trồng nhỏ lẻ ở quy mô nông hộ. Việc tái canh cà phê cần sự đầu tư lớn về vốn là vấn đề thực sự khó khăn đối với người nông dân khi mà bản thân các doanh nghiệp kinh doanh cà phê hiện nay còn khó huy động vốn từ ngân hàng.

Đến thời điểm này, đã có nhiều giải pháp đưa ra nhằm giải quyết hữu hiệu bài toán tái canh diện tích cà phê già cỗi. Những giải pháp đó tập trung vào việc hạ thấp vốn đầu tư, ứng dụng giống mới cho năng suất cao cùng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân…Tuy nhiên, nó cần có kế hoạch tổng thể, lộ trình rõ ràng chứ không thể giải quyết trong một sớm, một chiều.

Ông Nguyễn anh Phong, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng để tái canh cây cà phê, cần phải rà soát lại diện tích cà phê Việt Nam.: “Trên cơ sở rà soát chi tiết đó thì chúng ta mới có thể xây dựng cái kế hoạch tái canh cho từng vùng. Và nếu có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích hỗ trợ thì sẽ phải tập trung vào từng cái vùng một, xác định cho từng ưu tiên một.”

Với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD/năm, cà phê là mặt hàng có giá trị xuất khẩu đứng thứ 2 trong các mặt hàng nông sản của Việt Nam.Việc tái canh sẽ khiến sản lượng cà phê giảm, ít nhất là trong vài niên vụ. Thị phần của cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới có thể sẽ bị ảnh hưởng khi mà chúng ta đang là quốc gia đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê. Tuy nhiên, để phát triển bền vững lại cây trồng nhiều tiềm năng này, đây cũng là vấn đề tất yếu mà ngành cà phê Việt Nam phải chấp nhận.

Theo ông Nguyễn Đình Bích, Chuyên gia nghiên cứu chiến lược thương mại, hiện nay, một phần diện tích cà phê của nước ta trồng trên đất không thích hợp, cho năng suất thấp. Vì vậy, việc tái canh cà phê sẽ là cơ hội để chúng ta tái cơ cấu trồng cây cà phê. Cũng theo ông, mở rộng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là hướng đi có thể thực hiện tái canh cà phê hiệu quả.

Kinh nghiệm tái canh cà phê của các nước

Kinh nghiệm của các nước tiến hành tái canh cà phê trên quy mô lớn như Cô-lôm-bi-a, Ấn Độ cho thấy, cần xây dựng chương trình tái canh chủ động, có các giải pháp đồng bộ về kỹ thuật, chính sách, nguồn lực đầu tư và tiến hành từng bước theo hướng mỗi ha trồng lại không quá 20% diện tích vườn cây cần thay thế.

-Colombia: Với hai chương trình: nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo sự bền vững lâu dài cho ngành cà phê, Colombia mỗi năm hạn chế đổi mới 20% diện tích cà phê cho mỗi chủ vườn và thiết kế đổi mới 300.000 ha cà phê đến tuổi già cỗi, hàng năm đổi mới 70.000 ha cho tới năm 2020.

Nhà nước thông qua quỹ cà phê hỗ trợ tiền phân bón cho cà phê với mức 7 USD/ cây. Nhà nước chi trả 40% các khoản nợ cho nông dân vay cho chương trình tái canh. Tiền lãi do quỹ cà phê trả.

-Ấn Độ: Để giúp nông dân trồng lại các vườn cà phê thay thế các vườn cà phê già cỗi, chính phủ Ấn Độ đã tài trợ cho ngành cà phê một khoản ngân sách lớn, tới 1 tỷ rupi Ấn Độ(1USD= 48,96 rupi) trong kế hoạch năm năm từ 2007 đến 2012 với diện tích là 40.000 ha. Một nông dân có đến 2 ha trồng cà phê tái canh được trợ cấp bằng 40% giá thành trồng lại.

Giá thành trồng lại 1 ha cà phê Arabica dự tính hết 100.000 rupi Ấn Độ, tương đương 2.000USD và 1ha cà phê Robusta dự tính hết 70.000 rupi Ấn Độ, tương đương 1.400 USD.)

Với sản lượng xuất khẩu hơn một triệu tấn/năm và kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD/năm, cà-phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Tuy nhiên, với thực trạng diện tích càphê già cỗi đang tăng nhanh như hiện nay thì thành quả xuất khẩu trên rất có thể sẽ bị ảnh hưởng. Việc trồng lại cà phê, cải tạo các vườn cà phê già cỗi là một việc tất yếu để phát triển ngành cà phê, thế nhưng để không tạo ra sự sụt giảm lớn về sản lượng từ đó có thể khiến Việt Nam mất vị thế xuất khẩu cà phê nhất nhì thế giới, việc trồng lại chắc chắn sẽ phải được tiến hành một cách thận trọng.

Chuyên mục
Cà phê Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Tái canh cây cà phê: một cách nhìn mới về vấn đề cũ

Tái canh cây cà phê là trồng lại cây cà phê trên đất đã trồng cà phê, còn cưa đốn phục hồi vườn cây, ghép cải tạo chỉ là làm trẻ hóa vườn cây. Có lẽ vấn đề tái canh cây cà phê là vấn đề rất được quan tâm trong những năm gần đây và những năm sắp tới. Do đó, tôi xin chia sẻ một số ý kiến của bản thân, mong rằng sẽ hữu ích cho bà con trồng cà phê và những người quan tâm về đề tài này.

Tái canh cây cà phê: một cách nhìn mới về vấn đề cũ
Nhổ bỏ rễ gốc cây cũ , tương ứng sẽ có một lượng lớn chất hữu cơ, khoáng chất bị mất đi.
Tái canh cây cà phê: một cách nhìn mới về vấn đề cũ
Tái canh nhưng vẫn để gốc cà phê cũ
Tái canh cây cà phê: một cách nhìn mới về vấn đề cũ
Yêu cầu cần phải có cây che bóng chắn gió hỗ trợ khi cây cà phê còn non.

 Nghiên cứu về tái canh

Trước đây, GS. Phan Quốc Sủng và Viện KHKT  Tây Nguyên đã nghiên cứu về  hội chứng vàng lá trên cây cà phê và tìm ra nguyên nhân là do tuyến trùng và một số loài nấm (năm 1999). Nghiên cứu này thực hiện trên vườn cà phê tái canh sau chu kỳ khai thác. Và từ đó có những thí nghiệm để trừ khử tuyến trùng và nấm bằng nhiều biện pháp (sinh học và hóa học) nhưng không thành công. Mười năm sau tức là năm 2009 và cho tới nay, nghiên cứu về tái canh được thực hiện khi mà diện tích cà phê cần thay thế quá lớn, đủ đến mức toàn ngành cà phê và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm. Nhưng nguyên nhân vẫn khẳng định chủ yếu là tuyến trùng. Có nghĩa là, 10 năm trước cho rằng phải bỏ hoang hoặc luân canh với cây trồng khác ít nhất là 3 năm và 10 năm sau cũng kết luận như vậy. Không có một kết luận nào mới, mà một số vườn cà phê không tìm thấy tuyến trùng, nấm gây hại nghiêm trọng thì không có kết quả giải thích. Và như thế có nghĩa là người trồng cà phê muốn trồng ngay vẫn phải hoang hoá hoặc luân canh với cây trồng khác ít nhất là 3 năm.

Cái mà người trồng cà phê, ngành cà phê cần là trồng ngay để đảm bảo diện tích và sản lượng, tạo sự bền vững trong ngành. Gần như đó là bài toán cần có lời giải ngay trong khi đầu tư cho nghiên cứu còn nhiều hạn chế cả về tài chính lẫn chất xám. Nghiên cứu theo chủ nghĩa kinh nghiệm, theo lối mòn thì khó có thể tìm ra được căn cơ của vấn đề.

Nguyên nhân tái canh không thành công

Xét về mặt kỹ thuật, tái canh cà phê không thành công có 3 nguyên nhân chính:

  • Đất đai bị thoái hóa: Sau nhiều năm canh tác cà phê, với mức độ thâm canh cao, chắc chắn rằng lượng dinh dưỡng mà cây hấp thụ từ đất rất lớn. Do đó, nguồn dinh dưỡng cạn kiệt đặc biệt là những loại khoáng, hữu cơ được phong hóa qua hàng triệu năm. Bón nhiều phân vô cơ mà không bổ sung phân hữu cơ là nguyên nhân làm đất bị chai, thoái hóa. Độ xốp và sự mầu mỡ giảm khiến độ phì và khả năng sản xuất của đất giảm sút nghiêm trọng.
  • Nguồn sâu bệnh gia tăng: qua nhiều năm, sự hình thành các loài sâu bệnh hại tồn tại trong đất trồng cà phê được chuyên biệt, thích nghi với sự gây hại lên cây cà phê. Nhưng sự gây hại không nghiêm trọng vì trong đất còn có nhiều sinh vật đối kháng khác và khả năng kháng lại của bản thân cây cà phê. Sau khi nhổ bỏ cây cũ để tái canh, nguồn gây bệnh sẽ phát triển do những loài sinh vật đối kháng giảm sút và do nguồn thức ăn trở nên cạn kiệt khiến chúng tập trung lại gây hại lên cây con mới trồng.
  • Bản thân cây: Cây con được ươm trong bầu với chế độ chăm sóc hoàn hảo, tuy nhiên bộ rễ kém phát triển đặc biệt là trên cây ghép gốc cà phê mít. Khi đưa ra sống trong điều kiện mới, bầu rễ nhỏ bé nếu không ảnh hưởng bởi sâu bệnh thì cũng ảnh hưởng bởi những điều kiện của đất. Thay đổi môi trường sống đột ngột, bầu rễ chưa kịp thích ứng cũng có thể làm cây bị sốc và kém phát triển. Khi cây còn yếu đuối thì tác nhân gây bệnh có điều kiện tấn công một cách dễ dàng.

*Nếu vì bệnh tuyến trùng hay những nấm bệnh khác thì tại sao cây cà phê đang phát triển lâu năm lại không bị? Bộ rễ cà phê rất phát triển, đặc biệt là hệ thống rễ tơ phát triển với mức độ đan xen và dày tới 60 cm. Với một khối rễ khổng lồ trên vườn cà phê như vậy không thể có một tác nhân gây bệnh nào tấn công được. Sự tương hỗ giữa cây này và cây kia là điều kiện mà không một bệnh hại nào có thể gây thiệt hại đồng loạt như tái canh vì những cây con nhỏ chưa hình thành được khối khổng lồ đó.

Như vậy, Cây – Môi trường – Bệnh hại là 3 đỉnh của một tam giác, điều kiện để bệnh phát triển được khi cây con còn yếu, môi trường thuận lợi (đối kháng bị giảm).

Giải pháp tái canh thành công

Trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu, tuy có tính hạn chế, tôi xin đưa ra một số ý kiến để bà con có thể thực hiện tái canh cây cà phê ngay khi nhổ bỏ vườn cà phê già, cỗi.

  1. Việc nhổ bỏ cây cà phê già, cỗi phải tiến hành ngay đầu mùa khô (khi thu hoạch xong). Cày sâu, lật đất tạo nên một tầng canh tác tơi xốp và khử độc, diệt mầm mống sâu bệnh hại nhờ ánh nắng mặt trời và ôxi. Thực hiện tốt việc này thì việc bừa và rà rễ không cần thiết lắm vì khi cày lật một số rễ cà phê nằm trong đất bị phơi khô nên sâu bệnh hại cũng hạn chế. Nếu rà hết rễ, vô tình mình đã lấy đi lượng vô cùng lớn chất hữu cơ và dinh dưỡng do rễ cà phê phân hũy.
  2. Đào hố lớn, cạnh từ 1 m đến 2 m (hố vuông), sâu từ 50 cm trở lên. Hố cần phải đủ lớn để tạo độ tơi xốp cho rễ cây cà phê con dễ phát triển, hình thành nên vùng rễ mà đó là cơ sở để kháng lại với sâu bệnh hại và tác động của đặc tính lý hóa trong đất.
  3. Hố phải được đào trong mùa khô và được phơi nắng kỹ nhằm diệt trừ mầm mống của sâu bệnh hại và giảm độ độc của đất.
  4. Xử lý hố: bón khoảng 10 kg phân chuồng (hoặc phân hữu cơ), 0,5 – 1 kg phân vi sinh (hoặc vi sinh hữu cơ), 0,5 kg vôi và 0,5 kg lân. Tất cả hỗn hợp được trộn đều và lấp bằng lớp đất mặt. Thực hiện điều này khi bắt đầu mưa và trước khi trồng cà phê 1 tháng.
  5. Cây cà phê: Cây thực sinh có ưu điểm là bộ rễ phát triển, không bị tổn thương nhưng độ đồng đều và năng suất từng cây không đồng nhất. Cây ghép có bộ rễ phát triển kém nhưng độ đồng đều cao, năng suất cao. Mặc dù cây con là cây ghép hay cây thực sinh, trước khi trồng phải tập cho cây con thích nghi với điều kiện ánh sáng. Xử lý ra rễ, thúc đẩy cây phát triển bằng cách phun chất kích thích sinh trưởng, phân bón lá.
  6. Bón phân đúng với lượng theo quy trình, nhưng bón làm nhiều lần. Phun (hoặc tưới) phân hữu cơ có hàm lượng axit Humic cao. Đây là axit hữu cơ rất tốt cho đất và cây trồng. Trong tự nhiên, nó được hình thành trong thời gian rất lâu.

Hỗ trợ về tài chính

Những công ty kinh doanh, những nhà xuất khẩu thu lợi nhuận từ hạt cà phê còn thờ ơ với vấn đề này. Đáng lẽ ra họ phải đầu tư lại cho nhà nghiên cứu, cho nông dân trồng cà phê, những người đã đem lại giá trị gia tăng cho họ. Về mặt tài chính, nhà nước không thể nào kham nổi vì đơn giản ngân quỹ quốc gia có hạn và giá trị gia tăng trong kinh doanh cà phê thì chủ yếu cho các doanh nghiệp thu mua, đặc biệt là các công ty nước ngoài. Người Đức đã đưa ra chuỗi giá trị (Gtz), trong chuỗi giá trị đó mỗi một mắt xích phải có trách nhiệm với sản phẩm của mình từ khi sản phẩm được trồng – thu hoạch – mua bán – và người tiêu thụ cuối cùng. Không ai cho không ai, mà đòi hỏi phải có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng và môi trường. Có như thế, không riêng gì ngành cà phê mà bất kỳ ngành gì cũng phát triển bền vững.

Hi vọng giúp ích vấn đề tái canh cây cà phê!

Chuyên mục
Cà phê Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Đăk Lăk: Nhân rộng mô hình trẻ hoá các vườn cà phê

Đăk Lăk: Nhân rộng mô hình trẻ hoá các vườn cà phê – Hiện nay, ở huyện Cư M’Gar, vùng trọng điểm cà phê của tỉnh Đăk Lăk đã có nhiều hộ mạnh dạn cưa đốn hàng nghìn ha cà phê vối hết chu kỳ kinh doanh, chọn chồi tái sinh để ghép chẻ nối ngọn bằng các dòng cà phê vô tính chọn lọc mang lại hiệu quả kinh tế khá cao.

Gia đình anh Ama Nghé, ở xã Ea Tur là một điển hình với 1 ha cà phê sau khi cưa đốn chọn chồi tái sinh và ghép chẻ nối ngọn đã cho thu nhập mỗi năm trên 100 triệu đồng. Anh Ama Nghé cho biết, trước đây, vườn cà phê của gia đình mặc dù đầu tư thích đáng từ khâu tưới nước, bón phân cân đối, chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật, nhưng do hết chu kỳ kinh doanh (trên 20 năm) nên năng suất vườn cà phê vẫn ngày càng giảm, từ 2 tấn xuống chỉ còn 1,5 tấn, thậm chí có năm chỉ còn 1 tấn cà phê nhân/ha. Sau khi được hướng dẫn, tập huấn quy trình kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông huyện, Viện Khoa học Kỹ thuật nông – lâm nghiệp Tây Nguyên, anh đã cưa trắng vườn cây, sau đó chọn những chồi to, khoẻ tiến hành ghép chẻ nối ngọn với các dòng cà phê vối vô tính chọn lọc như TR4, TR5 của Viện Khoa học Kỹ thuật nông – lâm nghiệp Tây Nguyên.

Anh cũng cho biết thêm, để có vườn cây ghép đạt tỷ lệ cây sống cao (đạt từ 98% trở lên), gia đình sử dụng gốc ghép khá nhỏ tuổi và chồi ghép chỉ mang một cặp lá, áp dụng đồng bộ các quy trình thâm canh, chăm sóc, nên chỉ sau hai năm vườn cây đã đưa vào kinh doanh cho thu hoạch, với năng suất năm đầu đạt 3 tấn cà phê nhân/ha và từ năm thứ tư trở đi, năng suất ổn định từ 4 tấn cà phê nhân/ha trở lên. Cũng theo anh Ama Nghé, làm trẻ lại vườn cà phê bằng phương pháp cưa đốn phục hồi, chọn chồi tái sinh ghép chẻ nối ngọn dễ làm, không những rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản, từ 1 – 2 năm mà chi phí đầu tư cũng ít hơn nhiều lần so với trồng mới.Đăk Lăk: Nhân rộng mô hình trẻ hoá các vườn cà phê

Theo Viện Khoa học Kỹ thuật nông – lâm nghiệp Tây Nguyên, hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có trên 100.000 ha cà phê hết chu kỳ kinh doanh có hiệu quả, già cỗi phải cưa đốn phục hồi hoặc trồng lại, trong đó tỉnh Đắk Lắk chiếm diện tích nhiều nhất, với trên 50.000 ha. Việc cưa đốn vườn cây hết chu kỳ kinh doanh để chọn chồi tái sinh ghép chẻ nối ngọn là phương pháp tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho việc tái canh cà phê, các địa phương cần nhân rộng. Hiện nay, ngoài việc hướng dẫn các vùng trọng điểm cà phê của các tỉnh Đăk Lăk, Lâm Đồng xây dựng các vườn nhân chồi, Viện Khoa học Kỹ thuật nông – lâm nghiệp Tây Nguyên cũng đã đầu tư xây dựng 5 ha vườn nhân chồi các dòng vô tính cà phê vối chọn lọc để cung cấp chồi ghép cho các địa phương cải tạo, trẻ hoá các vườn cà phê.