Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn và phòng trừ dịch hại

Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn tiêu qua các giai đoạn như: Phục hồi vườn tiêu sau thu hoạch; chăm sóc vườn tiêu giai đoạn đầu mùa mưa; chăm sóc vườn tiêu giai đoạn giữa mùa mưa; và giai đoạn chuẩn bị cho thu hoạch.

Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn và phòng trừ dịch hại
Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn và phòng trừ dịch hại
  • Phục hồi vườn tiêu sau thu hoạch:
    • Rửa vườn: sau khi hái xả, cắt tỉa bỏ cành sâu bệnh và cành vượt, phun Eddy 72WP (500 g/phuy 200 lít) hayNorshield 86.2WG (300 g/phuy 200 lít), phun ướt toàn bộ nọc tiêu, gốc tiêu để tẩy rửa nấm bệnh còn ký sinh trên lá cây tiêu.
    • Tạo mầm hoa cho tiêu: phun Hydrophos + Hợp Trí HK 7-5-44 + TE (500 ml + 500 g/phuy 200 lít), phun 2 lần cách nhau 15 ngày, giúp cho tiêu nhanh chóng phân hóa mầm hoa, ra hoa đều.
    • Phòng trừ bệnh Chết nhanh, Vàng lá chết chậm trên tiêu: nhằm ngăn chặn nấm Phythophthora, Pythium, Fusarium xâm nhập gây hại tiêu, tưới gốc bằng Eddy 72WP (500 – 600 g/phuy 200 lít), tưới 4 – 5 lít/gốc (tùy theo tuổi cây).
    • Quét gốc: Cắt bỏ cành sát mặt đất, pha Norshield 86.2WG (50 g/1 lít nước) quét hay phun ướt đến gốc và cổ rễ.
    • Bón phân gốc, phục hồi cây: bón phân chuồng hoai (10 – 20 kg/gốc) và Hợp Trí Super Humic + Micromate (25 – 50 g + 50 g/gốc) trộn chung rải đều làm tơi xốp đất, cung cấp các nguyên tố trung – vi lượng cần thiết cho tiêu suốt vụ.
    • Tái tạo bộ rễ mới: Hợp Trí Super Humic (250 g/phuy 200 lít) tưới 4 – 5 lít/gốc, giúp ra rễ mạnh, tăng hấp thu dinh dưỡng, cây nhanh hồi phục. Kết hợp với trừ tuyến trùng hại rễ và rệp sáp gốc bằng Carbosan 25EC + Maxfos 50EC (500 ml + 500 ml/phuy 200 lít).
  • Đầu mùa mưa:
    • Chuẩn bị ra hoa: phun Bud Booster (500 g/phuy 200 lít) thúc đẩy tiêu đâm chồi và ra hoa. Khi tiêu bắt đầu đâm chồi, chuỗi tiêu nhú dài 3 – 5 cm, phun Bortrac + Hợp Trí HK 7-5-44 + TE  (250 ml + 500 g/phuy 200 lít), giúp chuỗi tiêu dài, tăng đậu hạt, ngăn ngừa hiện tượng đóng hạt bồ cào và rụng chuỗi.
    • Trừ bọ xít lưới, rầy mềm: phun Thiamax 25WG + Permecide 50EC  (50 g + 125 ml/phuy 200 lít).
    • Chống rụng chuỗi: khi tiêu tượng hạt (hạt bằng đầu tăm), phun Bortrac + Caltrac (250 ml + 200 ml/phuy 200 lít) để hạn chế rụng chuỗi.
  • Giữa mùa mưa:
    • Phòng trừ bệnh chết nhanh, vàng lá chết chậm trên tiêu: cắt bỏ cành sát mặt đất, quét Norshield 86.2WG (50 g/1 lít nước) lên thân cây và cổ rễ, kết hợp tưới gốc bằng  Eddy 72WP (500-600 g/phuy 200 lít), tưới 4 – 5 lít/gốc.
    • Nuôi hạt mau lớn: phun 2 lần Multipholate (500 g/phuy 200 lít).
    • Phòng ngừa thán thư hạt: phun Keviar 325SC + Caltrac (300 ml + 200 ml/phuy 200 lít).
  • Chắc hạt – thu hoạch đồng đều: Hợp Trí HK 7-5-44+TE (500 g/phuy 200 lít) phun 1-2 tháng trước khi thu hoạch, từ  2  đến 3 lần.
    Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn và phòng trừ dịch hại
    Quy trình chăm sóc cây tiêu phục hồi vườn và phòng trừ dịch hại

    chuse24h

Chuyên mục
Cây trồng Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

Chuse24h xin chia sẻ bài viết Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu giúp cho bà con có thể biết được cách phòng trừ sâu bệnh nhằm cho cây có thể phát triển tốt và mang lại thu hoạch bội thu.

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

Lên liếp trồng dưa: mương rộng 0,4 m, mặt liếp: 1 m, khoảng cách giữa 2 liếp: 5 m. Nên phủ bạt trước khi trồng. Mật độ trồng: 9.000 – 10.000 cây/ha, khoảng cách cây trên hàng: 0,4 m.

Bón lót trước khi trồng cây con hay gieo hạt: 500 kg vôi + 15-20 m3 phân hữu cơ ủ hoai + 400 kg lân + 300 kg NPK 16-16-8 + 2-3 kg HỢP TRÍ Super Humic + 20 kg Micromate CFM/ha.

Tưới Norshield 86.2WG (Đồng đỏ) (1 g/1 lít) tưới ướt đều hốc trước khi trồng cây con hay gieo hạt để diệt trừ mầm bệnh trong đất.

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
  1. Kích thích rễ phát triển mạnh, nhanh bắt phân, chống nghẹt rễ do xì phèn (10 NSG – 10 ngày sau gieo): HydroPhos + HỢP TRÍ Super Humic (25 ml + 15 g/bình 16 lít, phun chụp lên cả thân, lá, vùng rễ. Chú ý trừ dòi vẽ bùa, bọ trĩ, sâu xanh da láng bằng Brightin 1.8EC / Secure 10EC / Actimax 50WG.
  2. Thúc tược, dưỡng lá (15 NSG): Bud Booster (20 g/bình 16 lít), phun ướt đều tán lá, giúp tược to khỏe, lá dầy, cứng cáp. Phòng ngừa sương mai, thán thư, nứt thân xì mủ, chảy nhựa bằng Norshield 86.2WG. Khi có áp lực bệnh cao, thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển nên hỗn hợp Norshield 86.2WG với CaltracPhytocide 50WP hoặc sử dụng Eddy 72WP + Caltrac.
  3. Giúp cây thành thục sớm, ra nụ đồng loạt (20 NSG): HydroPhos + HỢP TRÍ Super Humic (25 ml + 15 g/bình 16 lít), phun ướt đều tán lá, kết hợp phun với thuốc trừ sâu.
  4. Thúc cây chuẩn bị lấy bông (25 NSG): phun Bud Booster + HỢP TRÍ HK 7-5-44+TE (20 g + 40 g/bình 16 lít), giúp cây ra hoa to, khỏe, không bị vàng lá chân (do thiếu kẽm (Zn), thiếu magiê (Mg), không bị ngù đọt (do thiếu Bo (B)). Trừ dòi vẽ bùa, bọ trĩ, sâu xanh da láng, rầy mềm và phòng bệnh sương mai, thán thư, chạy dây, héo rũ, phấn trắng nứt thân – chảy nhựa, đốm lá bằng các loại thuốc kể trên.
  5. Tăng sức sống hạt phấn, thụ phấn tốt, không chạy nụ: Bortrac (20 – 30 ml/ bình 16 lít) phun trước khi thụ phấn bổ sung, giúp tăng tỷ lệ thụ phấn, hạn chế rụng nụ, rụng hoa, chống ngù đọt. Cây đủ Bo, trái non phát triển đồng đều, bảo quản lâu: không tì vết, bọng ruột.
    • Tuyển trái: chọn trái tròn đều, cuống to, nhiều lông tơ.
  6. Nuôi trái lớn:
    • Thúc trái lớn lần 1 (35-37 NSG): Bud Booster + Seniphos (20 g + 40 ml/bình 16 lít).
    • Thúc trái lớn lần 2 (40-42 NSG): Multipholate + SeniPhos (20 g + 40 ml/bình 16 lít).
    • Phòng bệnh thán thư, nứt thân – chảy nhựa, sương mai… bằng hỗn hợp Norshield 86.2WG + Phytocide 50WP (15 g + 10 g/bình 16 lít) hay Eddy 72WP (50 g/ bình 16 lít).
    • Thúc trái lớn lần 3 (45-47 NSG): phun SeniPhos + Caltrac (40 ml+15 ml/bình 16 lít) giúp nuôi trái lớn, lá xanh cứng, chống nứt, thối trái, tăng đề kháng bệnh hại.
    • Phòng trừ sâu, bệnh hại bằng các loại thuốc kể trên.
  7. Giúp trái chín đều, chắc ngọt, màu đẹp, nặng ký, vận chuyển ít bị hư hỏng, bảo quản lâu
    • (45-47 NSG): HỢP TRÍ HK 7-5-44+TE + Caltrac (40 g + 15 ml/bình 16 lít).
    • (55-57 NSG): HỢP TRÍ HK 7-5-44+TE (40 g/bình 16 lít).

SẢN PHẨM THUỐC TRỪ SÂU VÀ BỆNH SỬ DỤNG TRÊN CÂY DƯA HẤU

BRIGHTIN 1.8EC & SECURE 10EC

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

BRIGHTIN 1.8EC

(Thuốc trừ sâu và nhện thế hệ mới)

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

SECURE 10EC

(Thuốc trừ sâu thế hệ mới từ thiên nhiên)

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

EDDY 72WP & PHYTOCIDE 50WP Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuEDDY 72WP(Thuốc trừ bệnh cây)Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuPHYTOCIDE 50WP(Đặc trị sương mai trên dưa hấu)

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

 

NORSHIELD 86.2WGHướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuNORSHIELD 86.2WGHiệu quả cao và kéo dài với nhiều loại nấm bệnh thước hạt thuốc khi phân tán trong nước rất mịn (80% < 2 µm) – Hòa tan tức thời khi pha vào nước. Bám dính cực tốt – Bảo vệ cây trồng lâu bền. Nồng độ hoạt được số lần phun – Hiệu quả kinh tế cao – và vi khuẩn. Công nghệ cao dạng WG – Kích chất cao (75% Đồng nguyên chất) nên giảm An toàn môi trường.

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

CÁC SẢN PHẨM DINH DƯỠNG CHO DƯA HẤU

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuHỢP TRÍ SUPER HUMIC(Acid Humic….. 70%)Tăng hoạt động vi sinh vật trong đất. Phát triển bộ rễ, tăng hấp thu phân bón. Tăng khả năng giữ nước và phân bón … Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuBUD BOOSTERN: 5%; P2O5: 5%; K2O: 5%; Mg: 1%; Zn: 10%; B: 5%Tăng cường sinh trưởng. Đâm chồi mạnh, lóng to – khỏe.Lá xanh bền, lá dầy -cứng khỏe, không cháy lá chân.Hình thành hoa đồng loạt, hoa to. Tăng đề kháng với sâu bệnh hại.
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuSENIPHOS(P2O5 310 g/lít + CaO 56 g/lít)Nuôi trái, thúc trái mau lớn.Chống nứt, nám trái, thối trái, chai trái.Tăng năng suất.Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuCALTRAC(Canxi 40% w/v (560 g CaO/lít))Chống nứt trái, thối trái, nám, lẹm đít trái.Tăng đề kháng với bệnh hại. Tăng chất lượng cảm quan Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuBORTRAC(Bo hữu cơ……. 150 g/l)Nụ hoa to, trổ đều. Hoa tươi lâu.Tăng sức sống hạt phấn đực, giúp thụ phấn hoàn chỉnh.Chống nứt thân. Chống nứt trái, trái dị dạng do thiếu Bo.Tăng năng suất & chất chất lượng. Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấuHỢP TRÍ HK 7-5-44+TE(N – P – K : 7 – 5 – 44) + TEGiúp trái chín đều, dưa chắc, nặng cân, ngon ngọt, màu đẹp.Trái cứng cáp, thu hái thuận tiện, bảo quản được lâu.

 

MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG THIẾU BO VÀ CANXI

Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu
Hướng dẫn chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên Dưa hấu

 

chuse24h.com

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Ủ xác bả thực vật, phân chuồng bằng chế phẩm Trichoderma

Để giúp bà con nắm được yêu cầu và cách ủ phân hữu cơ với chế phẩm Trichoderma, chuse24h cung cấp tài liệu này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc mong bà con trao đổi qua diễn đàn.

*Nên làm phân ủ – Tại sao?

1. Đối với xác bả thực vật:  như vỏ cà phê, thân lá cây bắp, dây thanh long, rơm, gốc rạ,… Những thứ này chưa phải là phân bón, cần ủ với Tricho để chuyển hóa chất hữu cơ thành chất mùn mà cây hấp thu được, làm tăng độ tơi xốp cho đất để hệ rể phát triển.

Ở vùng trồng lúa, gốc rạ ngập trong bùn gây ra tình trạng ngộ độc hữu cơ cho đất, do chất khí độc sinh ra trong quá trình phân hủy gốc rạ. Các chất khí này có thể là mêtan, sunphua hydrô,…

Vỏ cà phê tươi còn chứa nhiều chất đường, nông dân rải phủ vỏ cà phê lên bề mặt hố trồng làm cho cây cà phê, hồ tiêu dễ bị nhiễm bệnh, có thể chất đường có trong vỏ cà phê là môi trường thuận lợi và thức ăn cho các loài nấm hại phát triển mạnh.

2. Đối với phân chuồng: Trong phân chuồng đã có sẵn vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ. Vi sinh vật này có trong đường ruột động vật và trong tự nhiên nhưng chúng hoạt động không mạnh. Vì vậy cần có thời gian lâu để ủ cho phân chuồng hoai mục hoàn toàn. Tuy nhiên, trong phân chuồng cũng có chứa những mầm bệnh gây hại cho cây, hoặc mầm bệnh sẽ phát triển sau khi bón phân chuồng tươi vào đất. Đã có rất nhiều vườn tiêu bị chết nhanh, vườn cà phê bị vàng lá trầm trọng sau khi bón phân chuồng tươi khoảng một năm.

3. Trả lại cho đất các loại khoáng chất như đạm, lân, kal, manhê, đồng, sắt. kẽm, măngang… là những chất cây đã lấy đi của đất để nuôi cành lá, cho ra sản phẩm và trả lại trong xác bả thực vật, trong phân chuồng…

Mối quan hệ mật thiết giữa Trichoderma, đất và phân bón
Mối quan hệ mật thiết giữa Trichoderma, đất và phân bón

*Chế phẩm Trichoderma để ủ phân?

Thông thường, nông dân cần trộn thêm Urea, Lân và rỉ đường vô men Tricho rồi ủ với xác bả thực vật hoặc phân chuồng trong khoảng 2 – 3 tháng.

Đây cũng là một trong những cách để nhân sinh khối của Tricho. Có thể trong đống ủ chưa đủ quân số men Tricho để phân hủy nhanh chất hữu cơ. Thêm rỉ mật chính là thêm thức ăn để men gia tăng nhanh quân số.

Trong loài Trichoderma koningii có dòng M6 và M8 phân hủy chất hữu cơ rất mạnh và dòng M32 và M35 có thể trừ được mầm bệnh tồn tại trong đống ủ. Một công đôi ba việc…

*Cách ủ.

Các loại xác bả thực vật, phân chuồng, than bùn, rác… được gọi chung là chất ủ.

-Khuấy kỹ 1 kg Tricho vô phuy 200 lít nước, nếu được thì khuấy thêm vào 1 chai aminô 0,5 lít để bổ sung thức ăn cho men. Phuy men này vừa đủ để ủ cho khoảng 4 khối chất ủ. Có thể trộn thêm phân chuồng vào xác bả thực vật để ủ chung một lần. Khuấy đảo đều nước men trong phuy trước khi múc tưới lên chất ủ.

-Trải chất ủ lên nền xi măng hoặc lên bạt nhựa thanh lớp dày 20 cm, lấy nước men trong phuy tưới đều lên bề mặt chất ủ. Sau đó trải chồng tiếp 20 cm chất ủ lên lớp đầu tiên rồi tưới men. Làm tương tự như vậy cho đến khi hết khối chất ủ.

-Cào banh đống ủ ra, đảo trộn lại cho đều, tưới thêm nước sao cho khi nắm vắt chất ủ thấy nước rịn qua kẻ tay là vừa (đạt độ ẩm khoảng 60%). Sau đó vun chất ủ lại thành đống (như hình vẽ), tủ bạt để giữ ẩm.

-Khoảng 7 – 10 ngày sau, cào banh đống ủ ra, đảo trộn, tưới thêm nước như lần trước rồi vun thành đống, tủ bạt kín lại. Khoảng 20 – 25 ngày sau khi thấy chất ủ đã tơi rã thì có thể đưa đi bón cho cây.

*Chi phí cho một khối chất ủ.

-Nếu không pha thêm aminô: khoảng 15.000 đồng/khối.

-Nếu có pha thêm 0,5 lít aminô: khoảng 25.000 đồng/khối.

Ủ xác bả thực vật, phân chuồng bằng chế phẩm Trichoderma
Ủ xác bả thực vật, phân chuồng bằng chế phẩm Trichoderma

>> Qui trình chế biến phân hữu cơ vi sinh từ vỏ cà phê.

chuse24h

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Danh mục thuốc BVTV thường dùng cho cây hồ tiêu

Nhằm giúp bà con dễ hình dung một cách tổng thể, chư sê 24h sưu tầm trang danh mục và phân loại thuốc BVTV của VIPESCO để cộng đồng nông dân trồng và chăm sóc cây hồ tiêu tham khảo thuận lợi hơn.

A. Danh mục thuốc BVTV thường dùng cho cây hồ tiêu

Danh mục thuốc BVTV thường dùng cho cây hồ tiêu

B. Phân loại, nhận dạng thuốc BVTV

Danh mục thuốc BVTV thường dùng cho cây hồ tiêuDanh mục thuốc BVTV thường dùng cho cây hồ tiêuchuse24h

 

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu

Sau nhiều năm nghiên cứu, trường Đại học Tây Nguyên đã tìm ra biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác cây hồ tiêu. 

Sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu
Vào mùa thu hoạch hồ tiêu

Theo đó, nhà trường đã xây dựng được các mô hình sản xuất hợp lý bảo đảm canh tác tiêu bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thân thiện với môi trường, đem lại nhận thức mới cho người dân trong canh tác cây hồ tiêu.

Các nhà khoa học đã sử dụng các chế phẩm sinh học chitin, chitosan và chitosan oligomer cho cây hồ tiêu trong thời kỳ kiến thiết cơ bản.

Các chế phẩm sinh học được tách chiết từ vỏ tôm cua, côn trùng, vách tế bào nấm. Đây là những thành phần không độc hại, phân hủy sinh học nhanh và an toàn với môi trường.

Các thành phần chitosan và chitosan oligomer có hoạt tính kích thích tăng trưởng ở thực vật, tăng số lượng vi sinh vật có lợi, hạn chế nấm gây hại trong đất và tăng cường hệ thống đề kháng của thực vật đối với cây trồng.

Ứng dụng vào sản xuất, các chế phẩm được tưới cho cây hồ tiêu ba lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày. Sau ba tháng, số lượng nấm mốc và xạ khuẩn có trong đất tăng lên nhanh chóng.

Hầu hết số xạ khuẩn và nấm mốc này có khả năng tổng hợp các loại enzyme làm tan vách tế bào của các loại nấm gây bệnh và một số côn trùng, giúp cho cây hồ tiêu có khả năng làm tăng đề kháng với các loại nấm bệnh trong đất.

Trong quá trình canh tác, khi bón các chế phẩm chitosan và chitosan oligomer đã làm giảm đáng kể số lượng nấm gây bệnh Fusarium đối với cây hồ tiêu.

Ngoài cơ chế gia tăng gián tiếp số lượng nấm mốc và xạ khuẩn, chế phẩm chitosan và chitosan oligomer còn có hoạt tính kháng nấm Fusarium trực tiếp. Nấm Fusarium bị ức chế hoàn toàn khi nuôi cấy trên môi trường bổ sung chitosan và chitosan oligomer nồng độ 0,1-0,15%.

Các chế phẩm sinh học nói trên còn làm giảm số lượng tuyến trùng trong rễ cây hồ tiêu đến tám lần so với những vườn cây không sử dụng chế phẩm.

Mặt khác, khi phun chế phẩm chitosan oligomer nồng độ 200 mg/l lên lá, lượng diệp lục trong lá câyhồ tiêu tăng gần 50%. Cây được kích thích sinh trưởng thân dây chính và các cành nhánh phát triển nhanh hơn.

Thực tế sản xuất đã cho thấy, các chế phẩm sinh học chitin, chitosan và chitosan oligomer khi tưới hoặc bón vào đất đã có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện khu hệ vi sinh vật trong đất trồng hồ tiêu, góp phần làm giảm đáng kể số lượng các loại nấm gây bệnh trên cây hồ tiêu.

Tiếp thu thành quả nghiên cứu và thực nghiệm của Trường đại học Tây Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đăk Nông đang áp dụng việc sử dụng các chế phẩm sinh học vào canh tác câyhồ tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản của nhiều hộ nông dân và đã đạt kết quả khả quan. Trong đó, áp dụng phổ biến tại các địa phương trồng nhiều hồ tiêu như huyện Đắk R’lâp, Cư Jut và thị xã Gia Nghĩa.

Cây hồ tiêu là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao nhưng hiện nay việc canh tác loại cây này của các hộ dân đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là sự tàn phá trên diện rộng của bệnh vàng lá chết nhanh, vàng lá chết chậm do các loại virus gây ra.

Hiện nay, các biện pháp phòng trừ hóa học không hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu bước đầu thành công đã mang triển vọng lớn về phát triển sản xuất bền vững. Thời gian tới, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu các chế phẩm sinh học áp dụng canh tác cây hồ tiêu trong thời kỳ kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân.

Theo TTXVN

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Mối quan hệ mật thiết giữa Trichoderma, đất và phân bón

Việc phối hợp giữa canh tác truyền thống với công nghệ sinh học ngày càng có nhiều vận dụng mới để trồng và chăm sóc hồ tiêu mà nhiều bà con chưa biết. Thậm chí ở vùng cây tiêu đang bị dịch bệnh gây hại, khi được hỏi đến thì chưa biết, chưa nghe… mà với nhiều người biết rồi, nghe rồi thì… chưa đúng. Là một nông gia áp dụng công nghệ sinh học để trồng và chăm sóc hồ tiêu nhiều năm qua ở Đông Nam bộ, Tiêu Phong vừa gửi đến Chư sê 24h bài viết chia sẻ sau đây, mời bà con tham khảo.

Các bạn thân mến!

Để phòng ngừa và tiêu diệt các loài nấm gây hại cho cây hồ tiêu bằng biện pháp sinh học một cách hiệu quả, chúng ta cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản để áp dụng trên vườn cây của chính mình. Tôi xin mạo nuội chia sẻ cách chăm sóc vườn tiêu của tôi được áp dụng dựa trên những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp.

Mối quan hệ mật thiết giữa Trichoderma, đất và phân bón
Mối quan hệ mật thiết giữa Trichoderma, đất và phân bón

Bón phân là cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nên chúng ta thường nghĩ rằng bón càng nhiều càng tốt. Thế nhưng hiệu quả thu được của việc bón phân chỉ khi chúng ta bón hợp lý. Thay vì cần phải chia làm nhiều lần để bón trong một vụ mùa, bón theo nhu cầu của cây, chúng ta ngại tốn công nên đã làm ngược lại, là chia làm ít lần bón nhưng mỗi lần lại bón quá dư thừa phân, cây hấp thụ không hết dẫn đến tình trạng lãng phí. Với việc làm như vậy, không những không đạt được điều chúng ta mong muốn mà còn làm đảo lộn hệ sinh thái và có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực khác.

Phân bón hóa học, thuốc BVTV, chất kích thích sinh trưởng nhân tạo là các yếu tố chính gây nên tình trạng ngộ độc đất, chua đất, phá vỡ sự cân bằng vốn có của đất.

Người ta đã đào nhiều hố thăm dò và nhận thấy hầu như mọi hố đào nơi dây tiêu đã chết hoặc sắp chết đều có độ pH tương tự nhau. Khoảng 20cm đầu tính từ mặt đất có pH khoảng từ 4 – 5,5, ở khoảng 15cm tiếp theo độ pH khoảng 3 và ở 15cm tiếp dưới độ pH thấp hơn 2. Trong khi các loại nấm hữu ích thường tồn tại trong độ pH khoảng 5 – 8. Khi độ pH dưới 4, nấm Trichoderma bất hoạt hoặc chết. Trái lại, khi đất càng chua thì các loại nấm gây hại càng phát triển lấn át nấm hữu ích cả về quân số lẫn sức mạnh.

Bón phân đạm và phân DAP sẽ làm cho độ pH của đất tụt 2 – 3 bậc chỉ trong khoảng vài ngày, phần nào giải thích được tại sao người ta nói: bệnh gây chết nhanh chết chậm trên cây tiêu là bệnh nhà giàu.

Như vậy ta dễ dàng nhận thấy để phòng ngừa bệnh gây hại cho cây hồ tiêu ta phải quan tâm đặc biệt đến mối quan hệ của phân bón, đất và Trichoderma để giữ gìn sự cân bằng vốn có của nó.Theo đó ta sẽ dễ dàng giải thích tại sao cũng cùng một sản phẩm (Tricho) người thì sử dụng có hiệu quả còn người thì không?

Dùng chế phẩm sinh học để kiểm soát dịch bệnh đã và đang là mục tiêu của toàn thế giới, đặc biệt với mục tiêu sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Hiện có hơn 70 loài Tricho được định danh, trong đó tiêu biểu nhất là loài Tricho koningii, Tricho harazianum, Tricho reesei, Tricho viride, chúng sinh sản vô tính bằng bào tử.

Trong mỗi loài có nhiều chủng, được ứng dụng nhiều nhất vẫn là các chủng phân giải hữu cơ (cellulose), các chủng đối kháng nấm bệnh và tuyến trùng.

Ví dụ: Loài Tricho koningii dòng M6 và M8 chỉ có khả năng phân giải hữu cơ thành chất mùn mà hoàn toàn không có khả năng trị tuyến trùng và đối kháng nấm bệnh. Dòng M32, M35 chỉ có khả năng trị tuyến trùng và đối kháng nấm bệnh mà hoàn toàn không phân giải được chất hữu cơ.

Việc nhân sinh khối các dòng cùng một loài cũng khác nhau. Đối với dòng phân giải hữu cơ, chỉ cần dùng thức ăn là xác bã hữu cơ, giống men gốc, rỉ mật và nước là có thể nhân sinh khối được. Đối với dòng kiểm soát đối tượng gây bệnh thì việc nhân sinh khối khó khăn hơn.

Ví dụ: Đối với loài trichoderma dòng M32, thức ăn chính của chúng là protein của nấm rơm, độ pH thích hợp = 6. Dòng M35, thức ăn chính là protein của cám ngũ cốc, độ pH thích hợp = 7,5. Dòng M39, dùng thức ăn chính là protein của hải sản, độ pH thích hợp = 8. Ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiệt độ tối thích.

Do vậy, giá thành để nhân giống Tricho trị tuyến trùng và đối kháng nấm bệnh cao hơn so với Tricho ủ xác bả hữu cơ.

Một chức năng khác của Tricho là tiết ra chất kích thích sinh trưởng, giúp hệ rễ ra nhanh, mạnh.

Tuyến trùng có quan hệ mật thiết với nấm, khuẩn và vi rút gây hại, chủ yếu là mở đường cho các loài gây hại xâm nhập vào nốt sần do tuyến trùng gây ra. Sau đó các loài gây hại này lan dần đến rễ cọc, cổ rễ làm chết dây tiêu.

Có nên phối trộn Tricho với các sản phẩm khác để phun lên cây hoặc bón gốc cho cây trồng? Tất nhiên là phải trộn rồi vì Tricho là vi sinh vật sống nên phải có nguồn thức ăn để nuôi dưỡng chúng. Nhưng trộn như thế nào cho đúng, để bảo toàn được Tricho và để Tricho phát huy được hiệu quả cao nhất. Có lẽ điều này sẽ làm không ít người băn khoăn. Như mọi người đã biết, Tricho có thể sử dụng nhiều nguồn thức ăn khác nhau từ carbonhydrat, Amino acid (a xít amin) đến Ammonia. Bản chất của sinh vật trong tự nhiên thường là phải cạnh tranh để sinh tồn, nên khi phối trộn nhiều loại nấm ngay cả cùng loài với nhau ta phải biết được là sẽ đối kháng hay tương tác.

Hiện nay trên thị trường có bán nhiều loại phân amino dùng để phun trên lá hoặc tưới gốc. Ta có thể phối trộn Tricho với loại phân này để bón cho cây, vừa là dinh dưỡng cho cây vừa là nguồn để nuôi Tricho. Theo tôi được biết các chuyên gia về phân bón chỉ khuyên có thể phối trộn Tricho với các sản phẩm phân bón hữu cơ, chứ chưa có tài liệu nào cho phép phối trộn Tricho với các phân bón vô cơ dạng hạt như NPK, DAP… Cẩn thận với các sản phẩm như siêu lân, siêu kali vì khi phối trộn Tricho với các sản phẩm này có thể vô tình ta đã tiêu diệt mất Tricho trước khi đưa chúng đến với cây trồng. Không riêng gì Tricho mà các sản phẩm khác khi phối trộn với nhau ta phải có sự cân nhắc thật kỹ càng, tránh tình trạng đáng tiếc xảy ra, tiền mất tật mang.

Chúc các bạn được những vụ mùa bội thu !

Tieu Phong – Trảng Bom –  Đồng Nai.

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Thời gian vừa qua, tình hình sâu bệnh hại tiêu gia tăng nên nhiều người trồng tiêu gửi ý kiến tham vấn về việc phòng trừ sâu bệnh hại tiêu. Nhận thấy vẫn còn nhiều lúng túng trong việc sử dụng các loại thuốc BVTV, chư sê 24h nêu lại những nguyên tắc cơ bản để việc sử dụng thuốc của nhà nông có hiệu quả cao hơn.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong việc phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây hồ tiêu. Tuy nhiên trong thực tế sử dụng, hiện tượng lợi bất cập hại vẫn thường xuyên xẩy ra, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người trồng tiêu, kinh tế của gia đình và môi trường của cộng đồng. Nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh hại tiêu, xin giới thiệu cùng cộng đồng nông dân trồng tiêu nguyên tắc 4 đúng được ngành BVTV phổ biến như sau:

Định hướng sử dụng thuốc của ngành BVTV là chú trọng việc tuyên truyền, hướng dẫn nông dân áp dụng nguyên tắc 4 đúng gồm : Đúng thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng lúc và đúng cách.

1. Nguyên tắc sử dụng đúng thuốc: Khi sử dụng thuốc BVTV cần phải biết rõ loài sâu bệnh cần phòng trừ, tham vấn ý kiến cán bộ chuyên môn BVTV hoặc cán bộ nông nghiệp địa phương. Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng. Cần chọn mua những loại thuốc an toàn với cây trồng, ít gây hại với người tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc diệt cỏ.

Không sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, không có trong danh mục thuốc được phép sử dụng. Không sử dụng thuốc cấm.

2. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng: Đúng nồng độ, liều lượng bao gồm lượng thuốc và lượng nước pha trộn để phun trên một đơn vị diện tích cây trồng, theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Tùy tiện tăng nồng độ thuốc lên cao sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng, cây trồng vật nuôi, môi trường và làm tăng chi phí, hoặc phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho sâu bệnh lờn thuốc, kháng thuốc, tạo nguy cơ bùng phát dịch. Phải có dụng cụ cân, đong thuốc, không ước lượng bằng mắt, không bốc thuốc bột bằng tay. Phải phun hết lượng thuốc đã pha trộn, không để dư thừa qua hôm sau hay lần sau.

3. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng lúc: Phun thuốc vào thời điểm sâu bệnh dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh. Phun vào lúc trời râm mát, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá. Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa. Phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc. Không phun thuốc vào thời điểm sắp thu hoạch (thời gian cách ly tùy thuộc từng loại thuốc, thường có khuyến cáo thời gian trước thu hoạch). Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế. Để phun thuốc đúng lúc, người trồng tiêu cần tham vấn cán bộ kỹ thuật nông nghiệp để được hướng dẫn, xác định.

4. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng cách :

a/- Trước khi phun thuốc: Cần phải trang bị đầy đủ bảo hộ lao động cho người phun như quần áo lao động, mũ, kính, khẩu trang, bao tay, ủng ; chuẩn bị dụng cụ pha thuốc như ống đong, cân, xô pha thuốc, que khuấy và bình phun thuốc đã được kiểm tra không bị rò rỉ. Sử dụng thuốc còn trong bao bì an toàn. Nơi pha thuốc phải gần nơi cần phun, xa nguồn nước sinh hoạt, xa chuồng trại gia súc gia cầm.

Khi pha thuốc, bà con cần dự tính trước lượng thuốc và lượng nước cần dùng để pha. Cho vào bình khoảng nửa lượng nước rồi đổ thuốc vào và khuấy kỹ, sau đó tiếp tục cho nửa lượng nước còn lại vào và khuấy để thuốc phân tán đều trong nước. Không tự ý phối trộn nhiều loại thuốc BVTV với nhau, vì hỗn hợp này có thể phản ứng làm gia tăng hiệu lực thuốc nhưng cũng có nhiều trường hợp sẽ làm giảm hiệu lực thuốc, hoặc phản ứng gây cháy nổ, gây độc hại cho cây trồng vật nuôi và cho người sử dụng. Do đó chỉ phối trộn thuốc nếu đã nắm chắc, theo hướng dẫn trên bao bì hay hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và thuốc đã phối trộn phải được sử dụng ngay.

Thông thường, phối trộn hai hay nhiều loại thuốc trong cùng một lần phun sẽ cho hiệu quả cao hơn. Nhưng nhiều bà con nông dân chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn mà đã tùy tiện phối trộn thuốc BVTV nên không chỉ hiệu lực phòng trừ sâu bệnh thấp mà còn làm tăng nguy cơ ngộ độc.

Khi phun thuốc, phải hướng vòi phun vào đúng vị trí gây hại của từng loại sâu bệnh để cho tia thuốc tiếp xúc được nhiều nhất với sâu bệnh. Không đi ngược chiều gió khi phun.

Tuyệt đối không ăn uống, hút thuốc, không dùng tay sờ vào bất cứ nơi nào trên cơ thể, nhất là đối với mắt sẽ rất nguy hiểm.

b/-Sau khi phun thuốc: Quần áo, các dụng cụ lao động, bình bơm thuốc phải được rửa sạch sẽ và phải được cất giữ trong kho riêng cùng với nơi lưu chứa thuốc BVTV của gia đình. Không trút đổ thuốc dư thừa, nước rửa bình bơm ra nguồn nước sinh hoạt của cộng đồng. Tuyệt đối không được dùng vỏ chai, bao bì thuốc BVTV đã dùng vào mục đích bất kỳ nào khác, phải hũy và chôn những bao bì này ở xa nguồn nước sinh hoạt và khu dân cư.

*Để giúp bà con sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả cao và an toàn đối với cây trồng vật nuôi, đồng thời kiểm soát được tác hại ngược lại do quá trình phối trộn, xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

– Chỉ phối trộn các loại thuốc BVTV thuộc các nhóm gốc khác nhau mới có hiệu quả cao như: thuốc nhóm lân phối trộn với nhóm các ba mát, lân + cúc, các ba mát + cúc, các ba mát + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân hoặc cúc.

– Chỉ nên phối trộn thuốc có các tác dụng khác nhau như tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn.

– Chỉ nên phối trộn thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, trừ cỏ với phân bón.

– Không phối trộn thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng.

– Không phối trộn thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh…

– Không phối trộn thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B, Boocdo… Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao, trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính acid. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực thuốc.

Để biết chắc chắn hơn bà con nên pha thử trước, bằng cách lấy một ít thuốc nguyên chất loại này pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh, nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan, chú ý không dùng dụng cụ kim loại. Sau 3 – 5 phút, quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng váng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn các loại thuốc đó với nhau để phun cho cây trồng.

Nếu đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau thì cách pha chế như sau: Cho vào khoảng hơn nửa bình nước rồi lần lượt cho đủ lượng thuốc thứ nhất vào bình và khuấy loãng, sau đó tiếp tục cho lượng thuốc thứ hai vào rồi thêm nước cho đầy bình và khuấy đều, đủ lượng nước mình cần pha (hoặc lượng thuốc thứ hai có thể khuấy loãng riêng rẽ rồi mới đổ chung vào bình). Lưu ý không cho thuốc vào bình khi trong bình chưa có nước và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc, nồng độ của mỗi loại thuốc phải giữ nguyên như khi dùng riêng rẽ. Sau khi pha phải phun ngay.

Để sử dụng thuốc BVTV, phòng trừ sâu bệnh hại tiêu đạt hiệu quả cao, bà con cần hiểu và tuân thủ các nguyên tắc 4 đúng của ngành BVTV giúp cho vườn tiêu của mình đạt năng suất cao.

chuse24h

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Pha trộn các loại thuốc bảo vệ thực vật

Thời gian gần đây có nhiều bà con nhờ cộng đồng tư vấn về việc pha trộn thuốc BVTV, nhất là thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh. Chư sê 24h xin nêu một số nguyên tắc pha trộn các loại thuốc BVTV để bà con tham khảo.

>> Đặc điểm của nhóm thuốc trừ sâu

>> Đặc điểm của nhóm thuốc trừ bệnh

>> Có nên phối trộn các sản phẩm vật tư nông nghiệp với nhau?

Pha trộn các loại thuốc bảo vệ thực vật
Pha trộn các loại thuốc bảo vệ thực vật

 Những nhóm thuốc có thể pha trộn

– Chỉ nên phối hợp các loại thuốc BVTV thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm cacbamat, lân + cúc, cacbamat + cúc, cacbamat + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân hoặc cúc.

– Chỉ nên phối hợp thuốc có cách tác dụng khác nhau như (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn,…)

– Chỉ nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, thuốc trừ cỏ với phân bón, …

Những nhóm thuốc không nên pha trộn

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng

– Không phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

-Không phối hợp thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực của các loại thuốc.

Nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh hoặc nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan để trong 2 – 5phút. Quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng vàng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn chung các loại thuốc đó để phun cho cây trồng.

Khi đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau, trong quá trình pha chế nên lần lượt cho loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng ½ bình khuấy đều sau đó mới cho loại thuốc thứ 2 vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình, đủ lượng nước mình cần pha.

Lưu ý, trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc. Nếu pha chung 2 loại thuốc để trừ 2 nhóm đối tượng khác nhau (thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh) thì phải giữ nguyên nồng độ mỗi loại thuốc như khi dùng riêng. Nếu pha chung 2 loại thuốc để cùng trừ một đối tượng là sâu hoặc bệnh thì có thể giảm nồng độ 1 hoặc cả 2 loại thuốc, mức giảm nhiều nhất là 50%, lượng nước phun phải đủ theo yêu cầu.

Riêng thuốc trừ cỏ, nhất là thuốc trừ cỏ cho lúa và rau màu, không pha chung với nhau hoặc với thuốc trừ sâu bệnh nếu không có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc chưa làm thử như đã nêu ở phần trên.

Chú ý: sau khi pha thuốc phải phun ngay và không nên pha quá 2 loại thuốc với nhau.

Chuse24h