Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Kỹ thuật trồng hồ tiêu trên cây trụ sống

Hồ tiêu được trồng trên nhiều loại trụ khác nhau như trụ gỗ, trụ gạch, trụ bê tông và các loại cây trụ sống. Thực tế cho thấy trồng tiêu trên cây trụ chết như trụ gỗ hoặc trụ bằng vật liệu xây dựng trong điều kiện không che bóng có thể đạt được năng suất cao, nhưng kèm theo đó là sự suy kiệt nhanh chóng do ra hoa quả quá độ và sự bùng phát của nhiều loại bệnh nguy hiểm làm hủy diệt vườn tiêu.

Trồng tiêu trên cây trụ sống là kiểu canh tác bền vững, tạo nên điều kiện sinh thái phù hợp cho phép kéo dài thời gian khai thác vườn tiêu, hạn chế được các bệnh nguy hiểm và có thể giảm bớt chi phí đầu tư ban đầu. Các loại trụ sống phổ biến là vông, keo dậu, lồng mức, muồng đen v.v…. Cây trụ sống được trồng bằng cành hoặc bằng hạt.

Kỹ thuật trồng hồ tiêu trên cây trụ sống
Kỹ thuật trồng hồ tiêu trên cây trụ sống

Để đảm bảo vườn tiêu trồng trên cây trụ sống sinh trưởng tốt, đồng đều, cho năng suất cao cần chú ý tới các biện pháp kỹ thuật sau:

1. Trồng cây trụ sống

Keo dậu, lồng mức trồng với khoảng cách 2,5mx2,5m (1.600 cây/ha), muồng đen trồng với khoảng cách 3mx3m (1.100 cây/ha), tốt nhất vào đầu mùa mưa. Khi trồng bón lót 1 gốc 2kg phân chuồng và 0,2-0,3kg lân Đầu Trâu. Sau khi trồng, cứ 20-30 ngày bón thúc cho cây trụ sống 1 lần với lượng 10-15g Urê + 5g KCl/cây (hoặc 25-35g NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu) cho đến khi trồng mới tiêu vào 2-3 tháng sau đó.

Có thể trồng cây trụ sống 1-2 năm trước khi trồng tiêu, mỗi năm bón thúc phân cho cây trụ sống từ 2-3 lần. Cần chăm sóc tốt cây trụ sống để cây sinh trưởng tốt đảm bảo yêu cầu leo bám cho cây tiêu.

2. Trồng cây trụ tạm

Trồng tiêu cùng năm với cây trụ sống bắt buộc phải trồng trụ tạm. Sau khi trồng trụ sống 2-3 tháng thì trồng tiêu. Do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có chỗ cho tiêu leo bám nên cần trồng cây trụ tạm cùng lúc với trồng tiêu. Cây trụ tạm được trồng cách cây trụ sống 10-15cm, đường kính 10-15cm, chiều cao tính từ mặt đất hơn 3m, cây trụ tạm phải tốt để tiêu có thể leo bám trong vòng 2-3 năm trước khi cây trụ sống đủ lớn cho tiêu leo bám.

3. Trồng tiêu

– Đào hố trồng tiêu: Đào 2 hố 2 bên cây trụ tạm, mỗi hố trồng 1 dây tiêu hay 1 bầu tiêu. Kích thước mỗi hố 40cmx40cmx50cm, mép hố cách trụ tạm 10-15cm, sao cho tâm hố (vị trí đặt bầu tiêu) cách cây trụ sống từ 40-50cm. Cũng có thể đào 1 hố với kích thước 60cmx60cmx50cm để trồng 2 dây hay 2 bầu tiêu vào cùng 1 hố. Mỗi trụ tiêu được bón lót 10-20kg phân chuồng, 0,2-0,5kg phân lân, 0,2-0,3kg vôi bột, trộn đều phân với đất mặt và lấp xuống hố. Xử lý đất trong hố trước khi trồng bằng 1 trong các loại thuốc như Confidor 100SL 0,1%, 0,5 lít/hố hoặc Basudin 10H, 20-30 g/hố. Việc trộn phân lấp hố và xử lý đất trong hố được thực hiện trước khi trồng tiêu ít nhất là 15 ngày.

– Che nắng và chắn gió: Do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có tác dụng che bóng, cần làm túp che nắng, chắn gió cẩn thận cho tiêu.

4. Chăm sóc

4.a. Buộc dây tiêu

– Tiêu trồng bằng dây thân: Sau khi trồng 1-2 tháng, mỗi hom thân mọc 1-2 cành tược. Tược lên đến đâu phải buộc dây đến đó để rễ bám chắc vào trụ tạm, có như vậy thì cây mới cho ra nhánh ác. Nếu không buộc dây kịp thời tược sẽ ngã ra ngoài, dây ốm yếu không cho nhánh ác được.

– Tiêu trồng bằng dây lươn: Dây lươn không ra nhánh ác ngay. Tuy vậy vẫn phải thường xuyên buộc dây vào trụ tạm, không để cho đốt nào không có rễ bám vào trụ tạm. Khoảng 10 tháng đến 1 năm sau khi trồng, dây bám trên trụ tạm từ 1,2-1,5m thì bắt đầu ra cành ác. Việc buộc dây nên tiến hành từ 7-10 ngày/lần.

4.b. Tạo hình, nuôi thân

– Đối với tiêu trồng bằng dây thân: Sau 1 năm trồng, các dây tiêu đã vươn bám trên trụ tạm ở độ cao >1,5m, cắt ngang dây thân, cách mặt đất 25-30cm với mục đích vừa lấy hom nhân giống vừa tạo khung thân dây tiêu trên trụ.

Từ chỗ cắt mọc lên các dây thân chính. Giữ lại các dây thân khoẻ mạnh, tiếp tục buộc 3-5 dây thân mới phát sinh vào trụ tạm, chỉ buộc 1-2 dây thân vào trụ cây sống (lúc này trụ sống đã có đường kính 3-4cm và cao 3-3,5m), vặt bỏ các mầm dây thân còn lại. Không nên để quá nhiều dây thân bám vào trụ sống khi cây trụ còn nhỏ sẽ làm hạn chế sinh trưởng của cây trụ sống.

Khi cây trụ sống đã lớn, buộc cố định cây trụ tạm vào cây trụ sống, chuyển dần dây tiêu trên trụ tạm qua trụ sống. Hãm ngọn cây trụ sống ở độ cao 5m để tiện cho việc thu hoạch tiêu.

– Đối với tiêu trồng bằng cành lươn: Áp dụng biện pháp đôn dây tiêu vào năm thứ 2 (sau trồng 12-13 tháng): Sau khi tiêu leo lên được 1-1,2 m và các dây bám trên trụ bắt đầu cho 2-4 nhánh ác ở ngọn thì đôn dây xuống. Nhẹ nhàng gỡ dây xuống, tránh làm tổn hại, xây sát, gãy dập dây tiêu. Khoanh tròn dưới gốc phần dây không mang nhánh ác sau khi đã cắt hết lá, chừa đoạn ngọn có mang nhánh ác. Sau đó lấp nhẹ đất, hay chỉ dằn vài cục đất để giữ cho khoanh dây nằm im. Không nên lấp luôn một lớp đất dày vì các khoanh dây có thể bị chết. Sau khi rễ nhú ra từ các khoanh dây được đôn xuống nên vun gốc bón phân cho tiêu.

Chú ý giữ lại đủ số dây thân cần thiết cho bộ khung chính, loại bỏ các dây thân yếu, thừa. Một số dây thân sau khi đôn được buộc vào trụ tạm và 1-2 dây khác được buộc vào trụ sống tương tự như khi tạo hình tiêu trồng bằng dây thân.

Trong quá trình chăm sóc vườn tiêu chú ý cắt tỉa các loại cành sau:

– Tỉa bỏ tất cả các dây thân, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu. Cành lá của cành ác cách mặt đất 10-15cm. Dây lươn cũng được tỉa bỏ trừ mục đích để lại nhân giống.

– Tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ. Đối với tiêu trồng trên trụ sống, hãm ngọn dây tiêu ở độ cao 5m, không để ngọn dây tiêu trùm lên ngọn cây trụ sống đã hãm ngọn.

4.c. Rong tỉa cây trụ sống, mỗi năm rong 2 lần chính:

– Đầu mùa mưa: Rong mạnh, chỉ để lại 1 cành nhỏ hút nhựa hoặc có thể chặt ngang ngọn đối với các loại cây có khả năng tái sinh mạnh như muồng đen, keo dậu. Chú ý không để ngọn dây tiêu trùm lên cây trụ sống đã hãm ngọn.

– Tháng 8: Rong tỉa nhẹ, sau đó để cây tái sinh tạo bóng mát cho vườn tiêu trong mùa khô.

4.d. Bón phân

– Phân hữu cơ: Được bón hàng năm với liều lượng 30-40m3/ha. Vào đầu mùa mưa, đào rãnh vành khăn quanh gốc tiêu, mép rãnh cách mép tán tiêu 15-20cm, sâu 5-10cm, rộng 15-20cm bón phân hữu cơ đã hoai hoàn toàn, bón xong phải lấp đất lại. Khi đào rãnh bón phân, hạn chế tới mức tối đa làm tổn thương bộ rễ tiêu.

– Phân khoáng: Dùng các loại NPK Đầu Trâu có công thức phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây tiêu, đặc biệt chú ý tới các loại có vi lượng (TE) rất tốt cho cây tiêu.Loại và liều lượng NPK hỗn hợp bón cho tiêu- Thời kỳ kiến thiết cơ bản chia lượng bón 4-6 lần/năm.

– Lượng bón ở thời kỳ kinh doanh chia bón 4 lần/năm vào các thời kỳ sau thu hoạch quả, đầu, giữa và cuối mùa mưa.

4.e. Tưới nước và thoát nước

Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới nước: Mùa mưa, vườn tiêu phải được đào rãnh khai mương để thoát nước tốt. Vun gốc tiêu, không cho nước đọng ở gốc.

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Quy trình trồng, chăm sóc và bảo vệ cây hồ tiêu

Khởi đầu bằng trồng tiêu, tôi cũng từng mất thăng bằng khi khí hậu và môi trường thay đổi. Tuy nhiên những hiện tượng vật lí tác động đến sinh lí cây trồng là rất rõ nét . Hy vọng những nghiên cứu dưới đây giúp bà con nông dân kiểm soát được những loại cây trồng chung quanh mình nói chung và cây hồ tiêu nói riêng.

Lĩnh vực đề cập. là lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể là đề cập đến quy trình trồng – chăm sóc – bảo vệ cây hồ tiêu trước khí hậu thay đổi.
Tình trạng cây trồng hiện nay.

Theo chu kỳ thoái hóa của cây tiêu nên từ 20-22 năm sẽ biến động về giá, giá tăng cao khiến cây tiêu tự phát trên diện rộng.

Tiêu là loại cây bán chùm gửi, thích nghi với khí hậu nhiệt đới. Sinh lí nhạy cảm, không hợp với nhiệt độ dao động lớn trong ngày, nên cây hồ tiêu chỉ tồn tại ở miền Trung và miền Đông Nam bộ Việt Nam cũng như một số nước có khí hậu tương ứng như Ấn độ, Inodesia v.v…

Từ khi khí hậu thay đổi và tiêu trồng nhiều trên diện rộng đã xảy ra các hiện tượng như sau:

  • Chết hàng loạt ngoài kiểm soát.
  • Trồng trên địa hình, địa lí không phù hợp.
  • Khô hạn, nắng nóng, mưa nhiều, xói mòn, dịch bệnh.
  • Không xác định được tính năng, đặc điểm, sinh lí cây tiêu. v.v….

Hiện các nguyên nhân gây tiêu chết hàng loạt được xác định như sau:

1. Theo lẽ tự nhiên, khi trồng, ta thường làm bồn để giữ nước khi tưới.

Với địa hình trung du, đồi dốc nên nước chỗ cao sẽ dồn về chỗ thấp và chu kì thiên nhiên, cứ 10 năm sẽ có một năm mưa nhiều. Một trong mười năm ấy, sau bón phân hóa học gặp đợt mưa lớn, nhiều thì toàn bộ lượng phân ấy sẽ dồn vào gốc tiêu, khiến cây tiêu bị ngộ độc phân bón và sau đó sẽ chết hàng loạt. Đây là hiện tượng hy hữu nhưng tất yếu sẽ xảy ra do địa lí và chu kì của thiên nhiên tạo ra.

2. Chết do úng

Đào dưới gốc tiêu chết ở độ sâu 35-50cm ta thấy có một lớp đất dẻo như đất sét, mặc dù trước đó không hề có và đất trồng tiêu là đất trên đồi hoặc không phải là đất sét. Hiện tượng này được xác định như sau:

Theo tự nhiên, mọi vật đều bị kéo xuống do lực trọng trường. Bình thường, để có lượng nước mưa từ 100-200mm phải mưa lớn trong nhiều giờ. Nhưng với máy bơm lớn, chỉ trong 30 giây đã có lượng nước từ 100-200mm trong bồn tiêu. Việc làm này là hiện tượng bất thường so với thiên thiên. Một khối lượng và trọng lượng lớn của nước đã nén lên mặt đất, đồng thời chúng đã bị kéo xuống. Nước là vật chất loãng, dễ dàng hóa hơi bay lên cũng như di chuyển len lỏi xuống lòng đất. Với lượng nước tưới từ 100-200mm, khi di chuyển, nước sẽ kéo theo những vật chất nhỏ li ti của hữu cơ, vô cơ xuống lòng đất, và lắng đọng ở độ sâu từ 35-50cm một lớp phù sa dẻo như đất sét và đây là lớp đất chống thấm. Hiện tượng này chỉ hình thành sau khi trồng tiêu từ 5-6 năm. Theo chu kì thiên nhiên, cứ 10 năm sẽ có năm mưa nhiều, năm ấy sẽ xóa sổ những vườn tiêu trước sự chống chọi của tất cả các loại thuốc. Đây là nguyên nhân chết do tưới nhiều nước với khối lượng lớn, đột ngột, không hài hòa với thiên nhiên.

Hiện tượng này là do con người vô ý tạo ra nhưng rất khó phát hiện vì chúng chỉ hình thành ngầm dưới lòng đất sau 5-6 năm.

3. Tiêu chết do làm sai bản năng và sinh lí của chúng:

Quan sát dây tiêu sẽ thấy dây leo luôn ở vị thế thẳng đứng. Điều này cho thấy chúng không chấp nhận những thứ đeo bám.

Lá tiêu phủ từ trên xuống dưới, che kín gốc, lá xếp như mái ngói, như tổ ong, lá trên che lá dưới, khi mưa, nước mưa theo lớp lá đưa nước ra biên, với lượng mưa trung bình từ 50-70mm, gốc và thân cây tiêu không hề ướt. Điều này cho thấy chúng không chịu ẩm độ cao trong thân, trong gốc. Lá tiêu phủ sát đất là để chắn không cho các vật chất bị nước mưa văng bám vào thân. Lớp lá dầy như lông là để che, tức không cho nắng, nhiệt mặt trời rọi vào trong thân. Nếu tưới vào thân cây lúc thời tiết mới chuyển sang mùa khô sẽ giúp nấm hoặc mầm nấm phát triển chờ thời tiết thuận lợi sẽ bộc phát. Nếu cắt lá gốc sẽ tạo điều kiện cho nước mưa làm văng hữu cơ hoặc phân hóa học trực tiếp bám vào thân gốc tiêu.

4. Tiêu chết do đứt rễ, quan sát những cây tiêu chết trong vườn đặc điểm như sau:

Tiêu hay chết theo dọc bờ mương. Mương là nơi chứa, dẫn và thoát nước nên ẩm sẽ độ cao, mương thường được đào vét cũng như chứa nhiều lá khô mục chưa phân hủy. Khi vét mương, rễ tiêu thường bị đứt. Dây tiêu hay rễ tiêu khi bị cắt hoặc bị đứt sẽ chảy nhựa từ 8-15 ngày, tùy theo thời tiết, ẩm độ cao hay thấp. Điều này cho thấy tuyệt đối không được làm đứt rễ tiêu nhất là rễ lớn, khi rễ đứt nhiều, do chậm cầm máu nên cây tiêu mất năng lượng suy kiệt, cộng môi trường ẩm cao của mương cũng như nấm của các loại hữu cơ chưa phân hủy dưới mương khiến rễ tiêu dễ nhiễm bệnh rồi thối rữa.

5. Tiêu chết do lượng nước phân bố không đồng đều

Quan sát những cây tiêu thường chết bên cạnh lối mòn trong vườn tiêu hiện tượng như sau:

Khi mưa, lượng nước phân bố đều nhưng gặp những vùng đất cứng nên nước chậm thấm qua, thế là nước dồn đến các nơi khác. Như vậy trên nền lối mòn, nước sẽ dồn về các gốc tiêu gần đó làm ẩm độ nơi đó cao hơn nơi khác trong khi cùng một lượng mưa. Nếu gặp mưa nhiều thì tiêu quanh lối mòn sẽ úng.

6. Tiêu chết do nấm

Quan sát những cây tiêu chết thường là những nọc tiêu bị nghiêng hoặc những cây nọc tiêu có nhiều chãng, nhánh. Khi cây bị nghiêng, theo tự nhiên chúng sẽ đẻ nhánh để cân bằng trọng lực. Khi có nhánh thì sẽ có một mặt bằng 0 độ trên nhánh so với không gian của mặt đất. Khi mưa, mặt bằng này sẽ đọng nước do lõm của kẹt nhánh, đồng thời cành khô lá rụng thường kẹt lại nơi này. Như vậy đây sẽ là môi trường thích nghi cho các loại nấm phát triển trong mùa mưa khi ẩm độ phù hợp. (tại sao nấm mối không mọc ở mùa xuân?)

7. Tiêu chết do ngộ độc thuốc

Mùa thu, cây tiêu không bị tác động rõ rệt như cây sò đo, cao su v.v nhưng cũng có ảnh hưởng, thu về các lá già trong thân vàng nhiều, báo hiệu cây đã sang mùa. Đây là hiện tượng sinh lí tự nhiên, không sao cả. Vì không để ý nên nhiều vườn ngỡ bệnh, đem vô số các loại thuốc, xịt, đổ xuống gốc nhiều khiến tiêu bị ngộ độc thuốc. Như vậy sự lo lắng quá mức đã vô tình góp sức phá hoại cây tiêu và môi trường.

8. Tiêu chết do nước ngầm

Quan sát những vườn tiêu chết hàng loạt trên địa hình tưởng chừng lí tưởng, nhưng tiêu chết như sau:

Ở những quả đồi rộng hoặc những sườn dốc dài gần tiếp giáp với chân đồi, có độ nghiêng từ 7-15 độ có những chổ nước xì lên trên mặt đất lúc mưa nhiều hoặc trong mùa mưa. Qua nhiều năm, các hữu cơ, vô cơ nhỏ, trầm lắng bên dưới mặt đất ở độ sâu từ 50-70cm do lực trọng tường kéo xuống và nước là tác nhân xúc tác. Các vật chất nhỏ trầm lắng dầy đặc sẽ làm cho nước chậm thấm qua. Chính vì thế, khi mưa nhiều nước sẽ dâng lên khiến đất ở trên đồi bị nổi nước, có những nơi thành ruộng gò. Như vậy trước khi nước xì ra trên đồi là hiện tượng nước lưu chuyển ngầm dưới lòng đất, trong đáy vườn tiêu và dưới gốc tiêu. Với dạng đất như vậy sẽ khó phát hiện trong mùa khô.

9. Tiêu chết do các loài động vật tập trung cắn phá

Sau tết và giáp mùa mưa là rất khô, thậm chí sau một đêm, sương không còn đọng trên ngọn cỏ. Tất cả các loài sinh vật gần như không nước uống. Các loài như kiến, rệp, rệp sáp v.v…đều tập trung vào gốc tiêu để uống nước hoặc giữ ẩm da. Khi nguồn nước tưới cạn kiệt, chúng không còn cách gì khác ngoài đục khoét rễ, thân cây tiêu để hút nhựa. Sang mưa, những lỗ thủng trên thân rễ cây tiêu là một cái hồ nhỏ tạo môi trường cho một cuộc chiến với các loại thuốc hóa học bắt đầu.

10. Vông chết do khí hậu thay đổi

Khí hậu đã thay đổi. Nắng – nhiệt độ cao khiến lớp biểu bì (da) cây vông không giữ được độ ẩm trong thân cây nữa cộng sự đeo bám hút nước của cây tiêu nên vông chết là điều tất yếu. Khi chết thì tế bào sẽ dẫn tới hoại tử. Bệnh khí hậu thay đổi thì không cứu được. Các nhà bảo vệ thực vật khuyến cáo dùng thuốc trị vông chết là không thỏa đáng, chỉ làm thiệt hại cho nông dân và môi trường.

Để khắc phục và ứng phó các tình trạng nêu trên, phương pháp bao gồm các bước như sau:

Mô tả chi tiết giải pháp.

Bước một

chọn địa lí, địa hình phù hợp, cụ thể là chọn từng vị trí thật phù hợp để tránh các bất lợi như, đất cao, đất có độ nghiêng lớn, đất quá thấp, đất lòng chão, đất cạn đáy (độ dầy hữu cơ ít) đất sét. Đất cao sẽ tốn kém như: bơm công suất lớn, bơm chuyên dụng, kèm theo là giếng sâu hoặc ao nước xa, dây ống dẫn nước dài. Đất có độ dốc lớn khó chăm sóc, khó di chuyển, luôn bị xói mòn. Đất lòng chão sẽ bị nước tập trung khi mưa nhiều gây úng. Đất cạn hữu cơ cây trồng sẽ mau cằn cỗi. Đất sét thường không có hữu cơ và là đất không thấm sẽ ứ nước trong mùa mưa. Nếu trồng tiêu ở dạng đất như vậy tiêu sẽ chết, nếu cố tạo cho có thể trồng được thì dù thu hoạch sản lượng có cao nhưng tính hiệu quả sẽ thấp vì chi phí nhiều.

Chú ý: đất trên sườn đồi có độ nghiêng từ 7-15 độ, có độ dốc dài từ 150- 200 mét, nơi này thường xảy ra hiện tượng như sau:

Khi mưa, một lượng nước di chuyển trên mặt đất, một số thấm rồi lưu chuyển dưới mặt đất. Với độ dài trên, lưu lượng sẽ tăng lên về phía bên dưới. Khi di chuyển, nước mang theo những vật chất nhỏ về tập trung ở một điểm, điềm ấy thường hình thành trên hay dưới mặt đất ở lượng mưa trung bình trong năm. Qua nhiều năm, các vật chất nhỏ trầm tích xuống bên dưới mặt đất ở độ sâu từ 50-70cm sẽ tạo ra một lớp khó thấm. Chính vì vậy khi mưa nhiều nước sẽ xì ra, mặc dù ở lưng đồi. Muốn trồng trên dạng đất này phải đào những con mương sâu, cắt ngang triền đồi để cắt nước ngầm lưu chuyển (cần xác định đất trước một năm).

Không trồng tiêu trên đất đồng bằng vì đồng bằng nước không lưu chuyển hoặc lưu chuyển chậm. Theo chu kì, cứ 10 năm sẽ có một năm mưa nhiều, chu kì này sẽ xóa sổ vườn tiêu nếu chọn địa lí không phù hợp.

Bước hai: chọn giống.

Theo tự nhiên, nếu không thích nghi sẽ không tồn tại. Như vậy thiên nhiên đã mở sẵn cho ta một con đường. Nên chọn những giống tiêu năng xuất, ổn định và giống tiêu này đã tồn tại lâu dài tại địa phương.

Những bài học rất thời gian, tốn kém đã cảnh báo như cây trầm gió trồng ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Cây có gió nhưng không có trầm, cũng như một số giống tiêu cho là của Malaysia, Indonesia cho năng xuất cao nhưng sau cùng vẫn không tồn tại ở Việt Nam.

Sau khi xác định giống phù hợp sẽ nhân giống như sau để có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu.

Từ đỉnh ngọn tiêu già, cắt bỏ 1-1,5 mét vào đầu mùa mưa và có chế độ chăm sóc ưu tiên. Một năm sau dây non mọc trở lại, cắt dây non này trồng là phù hợp.

Bước ba. Chọn nọc

Để cho cây tiêu leo nên chọn loại cây như sau:

Anh đào là loại cây dễ trồng, dễ sống, tỷ lệ chết ít nếu trồng vào đầu tháng hai hoặc tháng ba âm lịch. Khoảng cách cây từ 2,2 mét cho đến 2,5 mét một nọc, ưu điểm là cây chỉ lớn nhanh lúc còn nhỏ, khi cây có đường kính khoảng 15cm cây sẽ lớn chậm nên lượng hữu cơ chi phối cho nuôi cây là ít. Cây anh đào rất cứng, phù hợp chịu lực, dễ tỉa cành, cây anh đào chỉ cần chặt ngang là trồng được, miễn cây đừng nhỏ và non quá, nếu trồng cây to và cao thì hố trồng sâu 60-70cm (nén gốc vừa chặt) nếu trồng cây nhỏ thì lỗ trồng sâu 50cm, lấp gốc 20cm và lấp dần theo thời gian, tránh lấp sâu một lần cây khó lên. Sau này cây lớn chỉ để cao không quá 4 mét. Nọc tiêu cao khó chăm sóc và bên dưới không có trái vì bị rợp, cây trồng phải thẳng đứng 90 độ, chỉ để một cây duy nhất. Đây là đặc điểm rất cần thiết để tránh bệnh cho tiêu. Khi cây xuống, đứng thì khó cho những gì đeo bám, lá khô dễ dàng tuột, rơi khi dông gió, lá khô không vướng lại trên kẹt nhánh sẽ không có môi trường cho nấm bệnh phát triển. Phía đỉnh nọc anh đào, chọn một nhánh mọc theo phương ngang để chừa lại, mục đích để khi tiêu phủ nọc, cành nhánh cây anh đào sẽ mọc trên nhánh này, như vậy đỉnh nọc sẽ không bị che ánh sáng, giúp tiêu quang hợp tốt, đồng thời dễ làm chồi vì không bị vướng dây tiêu.

 

Tạo hoặc chừa nhánh mọc theo phương ngang, rất dễ làm chồi và tạo ánh sáng cho đỉnh nọc.
Tạo hoặc chừa nhánh mọc theo phương ngang, rất dễ làm chồi và tạo ánh sáng cho đỉnh nọc.

Nọc cây lòng mức thì không thể chặt ngang trồng mà chỉ gieo cây con trồng trước một năm chờ cây lớn, hoặc bứng cây rừng, khoảng cách và cách làm như cây anh đào nhưng tốn công nhiều hơn vì cây lòng mức khó tỉa chồi.

 

Chuối trồng để bảo vệ tiêu và có thu nhập
Chuối trồng để bảo vệ tiêu và có thu nhập

Tuyệt đối không trồng những loại cây thân xốp, lớn nhanh như cây vông. Lớn nhanh nên cấu trúc của tế bào thưa, xen giữa độ thưa là nước, cây càng lớn thì lượng nước nuôi cây càng nhiều. Do khô hạn và khí hậu nóng lên, lớp da không còn đủ giữ ẩm cho cây nên nước trong thân bị bốc hơi, dẫn đến cây chết hàng loạt. Khi cây chết chúng sẽ xảy ra hiện tượng hoại tử, trong quá trình phân hủy sẽ có nhiều loại nấm mọc lên trên thân cây hay chỗ cây vông thối rữa. Những cây vông nhỏ hơn sẽ chết sau, nếu gặp mưa chúng sẽ phục hồi nhưng mang theo mầm bệnh và sẽ tái phát trong mùa khô năm sau, cứ như vậy, vườn tiêu cây vông sẽ xóa sổ theo thời gian.

Bước bốn. Cách trồng

Đất được làm xốp toàn bộ diện tích với độ sâu từ 35-40cm (chỉ một lần) tạo các bờ giữ nước để tưới có cao độ 10cm. Khoảng từ 50-70 mét đào một con mương để cắt nước ngầm lưu chuyển dưới mặt đất, mương có độ sâu từ 50-70cm.

Để giãm chi phí và mau đem lại kinh tế cách trồng như sau: (nên chuẩn bị trước một năm).

Vào đầu mùa mưa, trong tháng 3 âm lịch, thời gian này khí hậu khô nóng, có mưa đầu mùa, đất ẩm, thích hợp cho ươm dây tiêu. Chọn dây có độ tuổi từ 1 năm đến 18 tháng, cắt lấy 5 mắc (nếu dây mắc nhặc thì có thể cắt dài hơn) làm đất tơi xốp, vun lên thành líp, cao khỏi mặt đất 20cm, che mát, nên chừa nhiều lá, lá nhiều sẽ giúp chồi tiêu và rễ phát triển mạnh, lấp dây tiêu xuống đất từ 3-4 mắt, ngày tưới 3-4 lần, tưới ít, chống rụng lá. Sau 20-30 ngày thì đem trồng, trồng cạn, cho mắt thứ ba tiếp giáp với mặt đất (trồng cạn dễ lên) nén đất chung quanh gốc vừa chặt. Cây tiêu cần râm mát lúc còn nhỏ, nên khi trồng phải che mát. Để giảm chi phí cho che mát, cách làm như sau:

Đem chuối con trồng về hướng Tây, gần sát nọc tiêu để thân cây chuối che nắng chiều, trồng cạn để dễ phá chuối, nên trồng chuối trước một thời gian, chờ chuối bén hãy trồng tiêu, khi trồng, bẻ lá chuối gập xuống để che nắng, lá chuối rộng, do trồng gần nên lá chuối dễ che nắng cho tiêu. Sau một năm, khi cây tiêu đã lớn, đồng thời cũng là lúc thu hoạch và phá bỏ cây chuối cho tiêu lớn (chuối không cho đẻ con, chỉ một cây duy nhất)

Bước năm: cách chăm sóc, bón phân, phòng sâu rầy, nấm bệnh ứng phó với khí hậu nóng lên v.v….

Tiêu cũng như các loại cây trồng khác, vẫn sử dụng các loại phân bón thông thường và tuân theo khuyến cáo của nhà sản xuất .

Để ứng phó với khí hậu nóng lên, mất nước, trên nền mặt đất lúc nào cũng được phủ lên một lớp cỏ, lớp cỏ này đóng vai trò rất quan trọng như, cách nhiệt, chống sói mòn, giữ ẩm, tạo môi trường sống cho vi sinh vật phát triển, tự tái tạo hữu cơ, tự phân hủy và trao đổi các chất hữu cơ, các tích độc tố của cành nhánh cây tiêu thải ra, ngoài ra trong thảm cỏ có loại cỏ sống theo quang kỳ, sau chu kỳ sống, chết đi chúng để lại thân rễ thối rỗng trong lòng đất, làm đất tự xốp ngoài ra chúng còn phân bố lượng nước. Cao độ của cỏ giữ trong vườn tiêu trung bình từ 10-20cm. Không nuôi các loại cỏ thân ngầm như cỏ ống, cỏ tranh v.v…

 

Để cỏ dầy trong mùa khô
Để cỏ dầy trong mùa khô

Sau 4-5 năm, đất sẽ phì nhiêu trở lại nên không cần thiết dùng phân hữu cơ nữa, giảm được chi phí lao động cũng như ô nhiễm môi trường.

 

Thân chuối thối rữa tạo môi trường cho vi sinh
Thân chuối thối rữa tạo môi trường cho vi sinh

Bón phân

Một năm bón ba lần, đầu mùa mưa, giữa mùa mưa và cuối mùa mưa, lượng phân bón nên theo chỉ dẫn nhà sản xuất. Phân cứ rãi bừa, đều trên cỏ, sau đó dùng thuốc diệt cỏ xịt với liều lượng thấp hơn chỉ định, cụ thể. Thông thường liều lượng theo hướng dẫn là từ 70-80 cc cho bình xịt 8 lít. Như vậy xịt chỉ pha với 25-30cc, không xịt kĩ. Mục đích là để khi bị tác động của thuốc với liều nhẹ, cỏ chỉ bị thương tái, vàng chứ không chết, trong quá trình cỏ bị thương không hấp thụ được phân bón thì cũng là thời gian tiêu hấp thụ được phân bón mạnh vì có cỏ giữ độ ẩm .

Mỗi năm xịt cỏ cho chết chỉ một lần vào giáp đầu mùa mưa nhưng không xịt kĩ, mục đích khi mưa xuống còn gốc rễ chúng sẽ nhanh phục hồi để giữ ẩm cho mặt đất, lỡ gặp hạn trở lại, lớp cỏ khô bờm xờm sẽ cách nhiệt, tránh bốc hơi phân hóa học.

Mỗi năm làm xốp khắp mặt đất một lần (kể cả bờ bồn) vào đầu mùa mưa, dùng bồ cào cuốc với độ sâu 10cm, chỉ bẩy đất chứ không giật, kéo, tránh đứt rễ. Vào đầu mùa mưa, đất vẫn khô nên nước dự trữ trong cây ít. Tỷ lệ rễ đứt do răng cào là không đáng kể nên cây sẽ dễ lành và ít bị chảy nhựa.

Để tránh biến động sinh lí cho cây tiêu, tán cây anh đào hay lòng mức được tỉa quang làm hai đợt trong một một kì.

Đợt một tỉa 50%, nữa tháng sau tỉa 30% còn lại.

Mùa mưa đến sớm hay trễ không quan trọng, cứ giữ mát cho vườn lúc đầu mưa, vì đầu mùa thường mưa ít và khí hậu rất nóng cũng như thời gian ban ngày dài. Chờ tiêu nhú bông non ra độ 3cm thì tỉa tàng đợt một, nữa tháng sau tỉa tàng đợt hai, sau đó lượng ánh nắng giữ 50% trong vườn lúc mùa mưa, sang mùa khô, giữ ánh nắng từ 70-80% trong vườn tiêu là cần thiết.

Toàn bộ tán cây chặt xuống được băm vụn, phân tán đều để làm hữu cơ cho đất, làm lương thực cho mối, trùng v.v tạo môi trường sống cho vi sinh vật phát triển. Không được diệt mối, mối không ảnh hưởng cây tiêu vì mối thường chỉ ăn cây đã khô, nhờ mối ăn mà xác cây khô mau phân hủy, chuyển hóa.

Bên ngoài chung quanh vườn tiêu trồng một hàng chuối để che nắng, nắng chiều, hoặc trồng thêm mía, thơm vì các cây này thân và nách lá chứa nhiều nước, nên phân tán các loại cây này để mùa khô các loại côn trùng không tập trung vào vườn tiêu đề uống nước. Trong vườn tiêu cũng trồng chuối lác đác nhưng là chuối có thân ốm như chuối cao, chuối bơm để dễ đốn hạ trong vườn. Chuối đóng vai trò rất quan trọng như sau:

Sáu tháng mùa khô là rất khô, nhất là sau tết nguyên đán. Khí hậu nóng hơn nên sương đêm không còn đọng hạt trên lá trong khi nhu cầu về nước để sống còn cho tất cả sinh vật là bức thiết. Thiếu nước uống, các loài kiến sẽ đục vào thân cây tiêu để uống nhựa cây và cư trú trong đó vì thân tiêu rỗng. Sang mùa mưa, các lỗ rỗng bị đục khoét sẽ chứa nước, sinh bệnh từ đó.
Rệp sáp thân mềm, ẩm như chàng hiu, ốc sên v. v đều phải sống trong môi trường ẩm để chống khô da, sang mùa khô, dù không muốn chúng cũng phải đục bám vào rễ, thân cây tiêu để sinh tồn vì không còn môi trường nào khác, nhất là rệp sáp, từ đó gốc rễ tiêu sẽ là trung tâm cư trú cũng như bệnh tật, khi rệp sáp tăng cao tiêu sẽ chết dần.

Chuối là loại cây có vòng đời ngắn, dao động từ 12- 19 tháng, thân giữ nhiều nước, lá tán rộng, hứng nước mưa, cản gió, khi mưa, nước theo rảnh lá chảy vào thân, xuống gốc và đọng lại nơi nách lá, nách lá chuối như cái hồ nhỏ, là môi trường sống, sinh sản cho nhiều động vật tạo hữu cơ cho vườn cây. Khi mưa, lá rộng cản gió tác động thân cây chuối thành lực đòn bẩy, bẩy đất, khi chết, rễ chuối để lại vô số lỗ rỗng xốp dưới lòng đất cùng nhiều hữu cơ thối mục. Với môi trường thích nghi, rệp sáp, kiến v.v…gốc chuối sẽ là khách sạn sang, miễn phí của chúng qua mùa khô.

Với chu kì thiên nhiên, trong 10 năm sẽ có một năm hạn nặng, khi hạn nặng hết nước tưới, dùng sắt nhọn đâm vào củ hủ cây chuối cho chuối chết. Trong quá trình phân hủy, gốc và thân cây chuối cung cấp một ít nước cho tiêu vượt hạn (năm ấy tuy thất thu nhưng vẫn còn giữ được vườn tiêu) chuối trồng trong vườn tiêu chỉ để một cây duy nhất, sau thu hoạch mới để lại một cây con. Sang mùa mưa, khi cần ánh sáng cho tiêu,chặt ngang cây chuối, chừa lại khoảng 80cm để chống rợp cho tiêu.

Chăm sóc.

Sau khi trồng từ 12-18 tháng sẽ cắt ngang dây tiêu để chúng đâm chồi (không cắt vào giữa mùa mưa cây sẽ chảy nhựa nhiều, dễ nhiễm bệnh) khi chồi non lên, chọn từ 5-7 chồi tốt để cột vào nọc, vậy là đủ, còn các chồi khác cho tỏa ra ngoài, sau thời gian làm trái do không dược bám chúng sẽ tự chết. Cành, nhánh cây tiêu cứ để phủ sát đất, chỉ cắt tỉa ít để thuận tiện dọn lá gốc khi cần.

Tưới.

Tiêu không nên tưới nhiều, lượng nước tưới một lần chỉ cần tương đương với lượng mưa khoảng 50-70mm, sáu đến bảy ngày tưới một lần, tưới ngoài tán tiêu, tưới luôn cỏ, khắp mặt đất trong vườn. Sau tết âm lịch mới tưới vào thân dây tiêu vì lúc ấy thời tiết khô. Khi tưới, dùng vòi nước xịt vào các kẹt nhánh cho cành lá khô văng ra, thỉnh thoảng dùng vòi nước xịt đẩy lá khô trong gốc ra ngoài cho cỏ phân hủy. Một năm nên cào lá khô đọng dưới gốc tiêu ra ngoài hai lần vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa. Hạn chế đi lại trong vườn trong mùa mưa nhất là khi mưa nhiều.

Khi môi trường tương tác, dung hòa tiêu sẽ không có hoặc rất ít sâu bệnh. Không có môi trường cho nấm mọc thì sẽ không có nấm bệnh. Không mất nước uống thì kiến, rệp sáp sẽ không đục khoét cây tiêu gây ra bệnh.

Qua phần mô tả trên ta thấy rõ tính vận động và ứng dụng như: chọn địa hình phù hợp. trồng chuối để chia sẻ nguồn nước cho sinh vật. Giữ cỏ khắp mặt đất để giữ ẩm, cách nhiệt, chống xói mòn, phân bố đều lượng nước, tự tái tạo hữu cơ, xúc tác phân hủy tích độc tố của bả, xác tiêu, dung hòa môi trường.
Mô tả phương án ưu tiên thực hiện giải pháp.

Bước một: Chọn một triền đất tại xã An Phú. Bình Long. BP, có diện tích 5500m2 , đất cát pha đất đỏ, có độ dày hữu cơ trung bình là 40cm, cao độ với nước ngầm thấp nhất trong mùa mưa là 0,7cm, cao nhất trong mùa khô là 9 mét. Được làm xốp toàn bộ với độ sâu 35cm và hình thành hình thể để năm sau trồng tiêu.

Bước hai: đào ba con mương phía ngoài, bao chung quanh vườn tiêu để chặn nước ngầm đồng thời trồng anh đào, trồng chuối trước một năm tạo bóng râm cho năm sau thuận tiện trồng tiêu, giảm chi phí. Song song cắt ngang 50 nọc tiêu già để năm sau lấy giống trồng.

Kết quả đạt được.

Sau khi áp dụng phương pháp. Đã 24 năm qua vườn tiêu vẫn xanh tốt, cho thu hoạch trên dưới 2kg một nọc. Tiêu không bệnh nên không sử dụng thuốc hóa học ô nhiễm, độc hại, chi phí thấp nên đã đã duy trì được vườn tiêu qua những năm giá thấp trước sức cạnh tranh của các nước trồng tiêu trong khu vực. Tỷ lệ chết không đáng kể, 8-9/1000. Vườn đã trải qua những năm nắng hạn gay gắt như năm 1998 và chịu mưa nhiều qua năm 2000 cùng khí hậu thay đổi thất thường là nhờ vào phương pháp trên.

Nếu giải pháp trên được nhân rộng hoặc hoạch định vĩ mô như diện tích cao su, thì chỉ cần một tỉnh trồng tiêu, sản lượng chúng ta sẽ dễ dàng đè bẹp các nước cạnh ranh trong khu vực.
Tóm tắt giải pháp.

Giải pháp là một phương pháp trồng tiêu ứng phó với khí hậu thay đổi bao gồm: chọn địa lí, địa hình, giống, nọc, giữ ẩm, phân bố lượng nước, tái tạo hữu cơ, xúc tác, phân hủy tích độc tố của xác tiêu, dung hòa môi trường, điều tiết ánh sáng, nhiệt, trồng chuối giữ nguồn nước cho sinh vật uống qua mùa khô.
…………………………

Bà con và các bạn thân mến.

Trên đây là cả một quá trình nghiên cứu lâu dài.

Tiêu là loại đặc sản, có lợi thế về giá do xuất khẩu vì không phải nơi nào cũng trồng được, nhưng phù hợp với địa lí nước ta, phù hợp với lao động giản đơn, lao động phụ. Với diện tích nhỏ nhưng nguồn thu không nhỏ. Chỉ cần 1-2000m2 ở quê nhà chúng ta không phải sống cảnh nhà trọ, cơm chợ, áo đường, nhọc nhằn trăn trở. Với nguồn thu từ diện tích trên ta có thể ở nhà xum vầy, nuôi dạy con cái, xây dựng xóm làng.

Tôi có vườn tiều 2000 nọc, trồng từ 1987 đã và đang tồn tại với giải pháp trên. Mỗi năm chúng cho nguồn thu không nhỏ, góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học.

Chuyên mục
Cà phê Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Biện pháp hạn chế nạn ăn cắp cà phê vào vụ thu hoạch

Sau khi đăng bài “một số biện pháp chống cà tặc“, Ban Biên tập chuse24hg đã nhận được rất nhiều ý kiến của bà con nông dân qua điện thoại, email và cả phản hồi trên diễn đàn về việc phòng chống nạn “cà tặc” vào vụ thu hoạch cà phê năm nay. Trong đó có bạn Phạm Thanh Bình trao đổi, đề xuất một số biện pháp rất thiết thực. Mong bà con cùng tham khảo và vận dụng.

Biện pháp hạn chế nạn ăn cắp cà phê vào vụ thu hoạch
Nhiều gia đình chọn phương pháp “Xanh nhà hơn già đồng” để chạy đua với “cà tặc”

Có một số biện pháp để hạn chế tệ nạn ăn cắp cà phê vào vụ thu hoạch, có thể áp dụng đồng bộ như sau:

Về mặt chính quyền địa phương

Bên cạnh việc tuyên truyền vận động nhân dân tham gia phong trào phòng chống trộm cắp cà phê, chính quyền địa phương có thể tiến hành một số biện pháp như sau:

  1. Tổ chức cho các lò sấy, các hộ thu mua cà phê tươi trên địa bàn, ký cam kết ngay từ đầu vụ, không thu mua cà phê quả xanh, không mua của kẻ lạ mặt, phải biết được nguồn gốc, xuất xứ của hàng và tên người bán để cung cấp cho chính quyền khi có yêu cầu
  2. Thường xuyên kiểm tra các lò sấy, các hộ mua cà phê tươi này để phát hiện sai phạm, xử phạt thật nặng việc tiếp tay bọn “cà tặc” để tiêu thụ cà phê ăn cắp, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Nếu xét thấy cần thiết, đề nghị truy tố.
  3. Triệu tập những người có tiền án tiền sự về tội ăn cắp cà phê từ những năm trước lên ký cam kết và nhắc nhở không vi phạm trong thời vụ thu hoạch cà phê năm nay. Tổ chức cài đặc tình, bí mật theo dõi, giám sát sự đi lại của các đối tượng này để kịp thời ngăn chặn sớm
  4. Xử lý mạnh đối với những tên ăn cắp bị bắt như đem ra kiểm điểm trước dân, phạt thật nặng hoặc truy tố trước pháp luật
  5. Tăng cường tuần tra, mai phục bất ngờ vào ban đêm để kịp thời phát hiện bọn trộm cắp lẫn bọn tiêu thụ cà phê ăn cắp
  6. Thông báo đường dây nóng của chính quyền cho người dân và trực 24/24 để nhanh chóng tiếp ứng khi có tin báo.

Về phía người dân

  1. Các hộ có rẫy cà phê liền kề phải liên kết lại với nhau để phân công tuần tra bảo vệ trong khu vực ngày cũng như đêm. Các cây cao trong vườn có thể đóng bậc thang leo lên để dễ dàng quan sát tổng quát vào ban ngày.
  2. Khi bắt được kẻ trộm, thông báo và giao nộp ngay cho chính quyền xử lý. Tuyệt đối không được tùy tiện đánh đập kẻ trộm, có thể gây thương vong hoặc dẫn tới tội đánh người thành thương tích lại nặng hơn tội ăn trộm. Phải khôn ngoan và hết sức kiềm chế.
  3. Khi thu hái và đóng bao chờ vận chuyển phải có người trông coi, vì kẻ trộm lúc này không hái trộm mà vác trộm cà phê chủ đã hái và đã đóng vào bao sẵn. Bọn trộm có thể vác cà phê đã chất lên xe chờ chuyên chở, đi cất giấu ở rẫy khác để chờ đem tiêu thụ.
  4. Khi phơi cà phê tại sân nhà phải có đèn chiếu sáng vào ban đêm. Kê giường nằm canh phòng ở góc sân, nơi không có ánh sáng. Nuôi chó để có tiếng sủa đánh thức vào ban đêm khi nghe có tiếng động lạ.

Tóm lại ta phải chủ động, chịu khó trong thời vụ thu hoạch và phơi cà phê. Có vậy chúng ta mới có thể hạn chế được mất cắp do bọn “cà tặc” gây ra.

chuse24h.com

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Sức khỏe Tư vấn sức khỏe

Lợi ích và tác hại của rau Mồng Tơi

Mồng tơi là loại rau phổ biến, được sử dụng để chế biến trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài những tác dụng chữa bệnh thì rau mồng tơi cũng có tác hại nếu ăn nhiều.

Tác dụng của rau mồng tơi

Theo báo điện tử Vnmedia, mồng tơi hông chỉ là món rau thông thường, trong dân gian rau mồng tơi còn các tác dụng chữa bệnh.

Theo đông y, rau mồng tơi có tính hàn, vị chua, tán nhiệt, mất máu, lợi tiểu, giải độc, đẹp da, trị rôm sảy mụn nhọt hiệu quả… rất thích hợp trong mùa nóng. Theo các nghiên cứu cho thấy, trong mồng tơi chứa chất nhầy pectin rất quý để phòng chữa nhiều bệnh, làm cho rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo chống béo phì, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu. Tác dụng trừ thấp nhiệt, làm cho người lao động ngoài trời nắng nóng duy trì được sức khỏe, phòng chống bệnh tật như mỏi mệt háo khát, bứt rứt.

Dưới đây là những tác dụng chữa bệnh của rau mồng tơi:

Giảm cholesterol: Chất nhầy của rau mồng tơi có tác dụng hấp thu cholesterol, cholesterol nội sinh và ngoại sinh đều bị giữ lại trong ruột. Vì cholesterol bị khóa hoạt tính nên chất béo trong thực phẩm không ngấm được qua màng ruột, cholesterol sẽ bị thải ra ngoài qua phân. Người mập phì muốn giảm cân nên ăn rau mồng tơi vì nó có khả năng sinh nhiệt thấp, lại thông tiểu và nhuận tràng.

Làm vết thương, tốt cho xương khớp: Nước cốt từ rau mùng tơi có thể làm mau lành vết bỏng, hầm mùng tơi với chân giò thêm chút rượu để ăn hàng ngày sẽ giúp trị đau nhức xương khớp.

Chữa yếu sinh lý: Rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả.

Trị mụn nhọt: Lá mồng tơi đem giã hoặc say nhuyễn (không cho thêm nước), trộn với ít muối đắp lên mụn.

Say nắng: Giã nát lá mồng tơi đắp vào thái dương và trán. Sau đó dùng vải bó lại để giữ nguyên vị, để bệnh nhân nằm ngủ một giấc dậy sẽ khỏi.

Đẹp da: Lấy lá mồng tơi non ở đầu nhánh, giã nát lấy nước cốt thêm ít muối thoa nhiều lần rồi rửa sạch. Thực hiện vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ.

Trị tiểu khó: Giã hoặc xay nhuyễn lá mồng tơi, vắt lấy nước cốt hòa với nước đun sôi để nguội, thêm một ít muối. Uống hỗn hợp này vào buổi sáng trước khi ăn điểm tâm, còn bã mồng tơi dùng để đắp lên bụng dưới chỗ bọng đái.

Chữa bỏng: dùng mồng tơi tươi, giã nát, lấy nước bôi lên chỗ da bị bỏng.

Lợi sữa: Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi cócác vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắtnên tốt cho thai phụ…

Trĩ: Giã nhuyễn lá mồng tơi đắp vào chỗ bị trĩ.

Thanh nhiệt, giải độc, chữa táo bón: Rau mồng tơi, mắm, muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông, không còn táo bón.

Tác hại của rau mồng tơi nếu ăn quá nhiều

Sức khỏe và đời sống cho biết, rau mồng tơi chứa nhiều chất dinh dưỡng. 1/2 chén rau mồng tơi nấu chín cung cấp 190% lượng vitamin A và 20% chất sắt khuyến cáo cho chế độ ăn hằng ngày. Tuy nhiên, rau mồng tơi có thể gây ra một số tác dụng phụ khó chịu nếu ăn nhiều.

Hấp thu kém: Rau mùng tơi chứa hàm lượng cao axít oxalic, một loại chất hóa học liên kết với sắt và canxi khiến cơ thể khó hấp thụ các chất dinh dưỡng quan trọng. Để khắc phục vấn đề này, có thể ăn kèm các thực phẩm giàu trong một số vitamin C khi bạn ăn rau  mùng tơi bằng cách kết hợp uống một ly nước cam hoặc cà chua. Vitamin C sẽ giúp cơ thể dễ dàng hấp thụ canxi và sắt.

Sỏi thận: Đối với người mắc bệnh sỏi thận, nên tránh ăn rau mùng tơi. Nguyên nhân là do rau mùng tơi chứa nhiều purin, hợp chất hữu cơ khi đi vào cơ thể sẽ biến thành axít uric. Hàm lượng cao axít uric trong cơ thể làm tăng nguy cơ phát triển của sỏi thận. Các axít oxalic trong rau mùng tơi làm tăng nồng độ canxi oxalate trong nước tiểu, dẫn đến sỏi thận ngày càng phát triển.

Mảm bám răng: Một tác dụng phụ phổ biến nhưng vô hại của việc ăn rau mùng tơi đó là có cảm giác như răng có mảng bám hoặc nhớt. Nguyên nhân là do các axít oxalic trong thực phẩm này. Axít oxalic có chứa tinh thể nhỏ, không hòa tan trong nước. Các grit là vô hại và có thể được loại bỏ dễ dàng bằng cách đánh răng.

Khó chịu trong dạ dày: Rau mùng tơi có chứa hàm lượng cao chất xơ; một chén rau mùng tơi nấu chín có chứa 6g chất xơ. Mặc dù chất xơ rất cần thiết trong quá trình thúc đẩy tiêu hóa, tuy nhiên nếu ăn quá nhiều cùng một lúc có thể khiến dạ dày khó chịu. Cơ thể khi đó sẽ gặp một số vấn đề như đầy hơi, chuột rút sau khi ăn rau mùng tơi. Nếu tiêu thụ quá nhiều cùng một lúc, bạn có thể bị tiêu chảy. Hãy uống một ly nước đầy mỗi khi bạn ăn rau mùng tơi để giúp cơ thể quá trình tiêu thụ các chất xơ trong cơ thể trở nên dễ dàng hơn.

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản

Cây tỷ đô: bàn chuyện cây mắc ca với ông Nguyễn Lân Hùng

Sau khi bài “ Cây mắc ca – Huyền thoại hay ngộ nhận” của GS. Nguyễn Tử Siêm đăng trên các báo và chuse24h cũng đã đăng lại toàn văn theo email do chính Giáo sư gởi, thì trên báo Nông Nghiệp Việt Nam cũng đã đăng bài phản biện của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng với tiêu đề “Trồng ‘cây tỷ đô’: Xin hầu chuyện GS Nguyễn Tử Siêm…

Hôm nay Ban Quản Trị chuse24h nhận được bài của GS Nguyễn Tử Siêm phản hồi về ý kiến đã đăng trên báo Nông Nghiệp VN, để rộng đường dư luận cũng như được nghe tiếng nói từ hai phía của hai vị Giáo sư, chúng tôi xin đăng toàn văn bài của GS. Nguyễn Tử Siêm như sau:

Sau bài viết của tôi “ Cây mắc ca – Huyền thoại hay ngộ nhận”, ông Nguyễn Lân Hùng có bác bỏ một số điều, tôi xin bàn thêm mấy điểm sau:

1) Tôi viết:” mắc ca nhân giống bằng chiết ghép…”. Dùng cụm từ này tôi muốn nói gọn thuật ngữ ”nhân vô tính” tức là: chiết, ghép, hoặc cấy mô cũng được. Ông Hùng đề nghị: “ta nên bỏ bớt chữ “chiết” đi”. Tôi đồng ý, và cũng nhắc rằng không dưới 1 lần ông đã hướng dẫn cho bà con nông dân chiết. Ví dụ: “mắc ca có rất nhiều giống và nhiều cách nhân giống: nhân bằng hạt, nhân bằng cành giâm, nhân bằng cách chiết, ghép…” . Vậy ông nên có lời tự đính chính lại với bà con.

Cây tỷ đô: bàn chuyện cây mắc ca với ông Nguyễn Lân Hùng
Cây tỷ đô: bàn chuyện cây mắc ca với ông Nguyễn Lân Hùng

2) Tôi viết: ”… sau ít nhất 7 – 10 năm mới cho thu hoạch kinh tế, điểm hòa vốn khá chậm và nếu trồng bằng cây thực sinh sẽ không cho quả”. Ông cho rằng “không chính xác”, vì “nhiều bà con mới trồng 5 – 6 năm đã có được thu hoạch rất khá, gia đình vươn lên trông thấy”. Lưu ý ông là “thu hoạch khá” không luôn luôn đồng nhất với thu hoach kinh tế (tức có hiệu quả) và năng suất vụ bói trên diện hẹp mà ông nói chưa thể coi là “vươn lên” chắc chắn. Bây giờ đang là lúc bán hạt giống, cây giống, bán thành phẩm mắc ca với giá cả “loạn xạ”, chưa có cơ sở để khuyên người trồng yên tâm hưởng lâu dài.

3) Về trồng xen với cà phê, ông viết “Dân đánh giá rất tốt”. Có thể có vài hộ, không nên nhân danh dân. Nên nhớ đã có những cây bơ, quế, sầu riêng,…nhằm thay thế muồng đen, muồng lá khế, keo dậu (những cây che bóng đã lọc lựa mấy chục năm nay) đều làm cho cả 2 cây (cà phê và cây bóng) không ra gì; khẳng định này không thiếu trên truyền thông. Còn trồng xen để mắc-ca diệt cà phê thì câu chuyện lại khác, nhiều hộ vẫn không dám phiêu lưu như vậy và không nên hối thúc họ thay thế.

4) Ông viết: “mắc ca sẽ góp phần cân đối lại nguồn nước”. Hãy lắng nghe các ý kiến khác: “Mắc-ca cần nước quanh năm, mùa nắng phải đủ nước tưới; nếu không nắng hạn làm rụng hoa nghiêm trọng. Khi  thiếu nước năng suất rất thấp, hạt nhỏ không đạt chuẩn tăng vọt. Mây và mưa dầm làm vỏ hạt dầy lên, nhân nhỏ lại. Nếu khí hậu không thuận lợi có thể hoàn toàn không đậu quả.…” (Phan Văn Danh, PCT Hội doanh nhân Việt kiều tại Úc).

5) Ông cho rằng tôi thiếu thông tin khi viết: “… đến nay vẫn chưa có một bộ giống chuẩn về cây mắc ca”.  Vậy ông hãy đọc ông Cao Chí Công (Tổng cục Lâm nghiệp); Phạm Đồng Quảng (Cục Trồng trọt); Trần Vinh (Viện NCNLN Tây Nguyên); và “tại khu vực Tây Nguyên, nông dân đã trồng rất nhiều giống mới có hiệu quả thực tế cao, nhưng không hiểu sao lại chưa được công nhận chính thức” (Nguyễn Đình Hưởng, LienVietPostBank) để biết và khuyến cáo chính xác cho bà con.

6) Tôi không tham vọng đưa ra ý kiến lớn bổ ích cho bà con, chỉ mong giảm bớt thiệt hại nhỡ vướng cái vòng “chặt-trồng-chặt”. Mắc-ca  có triển vọng, nhưng cũng không miễn nhiễm với triệu chứng này. Khi khuyếch trương phân khúc sản xuất, nên nhớ rằng các công ty đa quốc gia đang nắm đằng chuôi là giống và sản phẩm cuối cùng.  Vì thế, mắc-ca Việt Nam phải làm chủ cả chuỗi giá trị mới chắc ăn được, sinh kế của hàng triệu người, không thể đem ra làm phép thử.

7) Sau bài viết của mình, tôi tìm thấy sự đồng điệu trong các ý kiến sau: “về mặt khoa học cây mắc ca cũng chưa rõ ràng” (Phạm Đồng Quảng”; “phải có nghiên cứu đầy đủ về cây mắc catrước khi có những thông tin quảng cáo rầm rộ” (Đào Thế Anh); “phải trồng khảo nghiệm rộng khắp để có một bộ giống chuẩn” (Trần Vinh); “chưa có cơ sở để khẳng định quĩ đất trồng mắc ca ở Tây Nguyên là 200.000 ha và tính hiệu quả của mắc ca thì hiện tại chưa có thể khẳng định được điều gì” (Cao Chí Công); v.v.  Quảng cáo nên dựa trên cơ sở khoa học và đi sau khoa học.

Đưa thêm 1 cây vào hệ thống nông nghiệp là hay, tăng tính đa dạng và tính cạnh tranh của nông sản Việt, nhưng tính hiệu quả và bền vững của nó đòi hỏi phải thận trọng.

GS. Nguyễn Tử Siêm

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Ớt - Gừng

Kỹ thuật trồng gừng năng suất cao

Để đạt năng suất và chất lượng cao, nông dân cần chú ý từ khâu chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch. Nên chọn giống củ to, già, bóng, không khô héo, không nhăn nhúm và không bị sâu bệnh…

Cách trồng Gừng tại nhà đơn giản
Cách trồng Gừng tại nhà đơn giản

Gừng là loại cây gia vị được trồng khá phổ biến vì chúng dễ trồng, đa dụng và có hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán (gừng được sử dụng làm mứt). Để đạt năng suất và chất lượng cao, nông dân cần chú ý từ khâu chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch.

Nên chọn giống củ to, già, bóng, không khô héo, không nhăn nhúm và không bị sâu bệnh. Muốn gừng lên đều cần ủ giống cho nảy mầm trước khi trồng. Đây là yếu tố quyết định trước tiên đến năng suất gừng.

Gừng giống phải để nơi thoáng mát khoảng 1 tuần rồi tiến hành bẻ hom bằng tay, vì khi dùng dao thì mầm bệnh sẽ từ củ này lây sang củ kia. Hom giống phải to, nguyên vẹn (từ 40 – 60g) mới đủ sức nuôi cây con khoẻ mạnh, trên mỗi nhánh phải có ít nhất một mắt mầm. Ngâm hom vào dung dịch thuốc trừ nấm khoảng 20 phút để trừ dịch bệnh rồi vớt ra để nơi khô ráo khoảng 1 tuần, sau đó tiến hành ủ giống. Gom gừng lại thành đống cao không quá 8 tấc, phủ một lớp rơm rồi tưới cho đủ ẩm. Sau nửa tháng thấy u mầm thì đem trồng.

Đất trồng gừng phải xốp, đủ ẩm và thoát nước tốt. Đất được cày sâu 25 – 30cm, phơi ải, xới cho nhuyễn rồi lên luống. Khoảng cách trồng có thể là 30 x 40cm hoặc 50 x 20cm. Gừng là loại cây ưa sáng nhưng cũng có khả năng chịu rợp. Tuy nhiên nếu che ánh sáng nhiều quá (70 – 80%) thì năng suất giảm rõ rệt.

Do gừng nảy chồi ngang nên đặt củ xuôi theo hàng trồng để chồi phát triển về bên hàng. Trong quá trình phát triển, không để gừng thiếu nước sẽ chậm lớn. Gừng là cây rất háo nước nhưng lại không chịu úng, do khi bị úng dễ bị bệnh thối củ. Vì thế trong mùa mưa, liếp phải thoát nước tốt.

Gừng có nhu cầu N, P, K tương đối cao, trong đó nhu cầu về N là nhiều nhất. Lượng phân sử dụng cho 1.000m2 là: Urê 15 – 20kg, super lân 20 – 25kg, KCL 20kg và 500kg phân hữu cơ. Phân hữu cơ rất cần thiết cho gừng và là yếu tố quyết định lớn đến năng suất gừng. Bón lót toàn bộ phân lân, 1/2 phân N và kali. Khi thấy bụi gừng có 2 – 3 cây con tiến hành bón phân thúc. Chú ý không để phân bám trên lá gừng sẽ làm cháy lá. Mỗi tháng làm cỏ và xới xung quanh chống lèn đất.

Có thể thu hoạch gừng từ 4 tháng trồng trở đi nhưng nếu làm giống thì phải thu hoạch sau 9 tháng. Không nên để già quá, gừng cay nhiều, có xơ; cũng không thu non quá, củ bị nhăn nhúm, giảm chất lượng.

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Sức khỏe

Vị thuốc quý từ cây tiêu lốp

Tiêu lốp (Long pepper). Các tên khác tại Việt Nam: Tiêu dài, tiêu thất, tiêu lá tim. Tên khoa học là Piper longum thuộc họ thực vật Piperaceae có lẽ đã đến Âu Châu trước tiêu đen (Black pepper) từ lâu. Tiêu lốp được đánh giá cao trong thời đế quốc La Mã và được định giá cao gấp ba lần hơn tiêu đen và vị của tiêu lốp, vừa cay vừa ngọt, rất thích hợp với các món ăn và khẩu vị La Mã. 

Ngày nay, tiêu lốp rất ít được biết đến và trở thành ít thông dụng. Tiêu lốp được xem như một vị thuốc hơn là một gia vị.

1. Mô tả cây tiêu lốp 

Cây tiêu lốp thuộc loại thân thảo, phần gốc mọc bò. Thân cành mang hoa, không lông, đứng thẳng, có thể cao 2-4 m. Lá mọc so le, có cuống ngắn. Phiến lá hình trứng, thuôn, dài khoảng 6-7.5 cm, rộng 3-5 cm. Gốc hình quả tim, hơi lệch một bên. Đầu lá nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông nhỏ. Lá có 5-7 gân.

Cụm hoa mọc thành bông. Hoa đơn tính. Hoa đực dài khoảng 3.5 cm, có trục nhẵn, lá bắc tròn, có 2 nhị. Hoa cái ngắn hơn, khoảng 1.5 cm, có cuống ngắn.

Cụm quả hình trụ, hơi cong, do nhiều quả mọng nhỏ tập họp tạo thành, dài 1.5-3.5 cm, đường kính 0.3-0.5 cm, mặt ngoài màu đen hay nâu. Gốc cụm quả có cuống còn sót lại hay vết của cuống đã rụng. Quả mọng nhỏ, hình cầu. Hạt tròn hay gần như tròn cỡ 2-2,5 mm.

Vị thuốc quý từ cây tiêu lốp
Vị thuốc quý từ cây tiêu lốp

Tiêu lốp là cây thuộc vùng nhiệt đới châu Á. Phân bố tự nhiên tại Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nam Trung Hoa (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây), Đông Nam Á (Việt-Miên-Lào), Thái, Mã Lai, Singapore, Phi. Tại Việt Nam, cây trồng tương đối phổ biến ở các tỉnh vùng cao nguyên trên toàn quốc.

2. Dược tính từ cây tiêu lốp

Tiêu lốp được dùng làm gia vị và làm thuốc trong dân gian, nên được cho là an toàn khi sử dụng với những số lượng vừa đủ. Tuy nhiên, do quả được ghi nhận là có hoạt tính ngừa thai khi thử trên thú vật nên tránh dùng cho phụ nữ đang mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ.

Piperine có những hoạt tính tương tác sinh học như can thiệp vào các hoạt động xúc tác sinh hóa của một số men (enzyme) trong cơ thể, ức chế men Arylhydrocarbon hydrolase (AHH) và UDP- glucoryltransferase nơi gan, nên có khả năng gây thay đổi sự hấp thu phenytoine và barbiturates trong cơ thể.

Tiêu lốp có thể gây tăng hiệu ứng thuốc và tăng phản ứng phụ khi dùng chung với phenytoin (Dilantin), propranolol (Inderal), theophylline.

Người Trung Quốc sử dụng Tiêu lốp để trị các chứng bụng lạnh, đau, nôn, buồn ói, tiêu chảy. Dược học cổ truyền Việt Nam dùng tiêu lốt để trị đau bụng, ‘lạnh’ bao tử, nôn-ói ra nước chua, sôi bụng, tiêu chảy, đau nhức đầu, chảy nước mũi, viêm xoang, đau răng sâu, kinh nguyệt không đều.

3. Cách dùng tiêu lốp trong ẩm thực các nước

Tiêu lốp được dùng khá thông dụng trong các món ăn Ấn Độ và Bắc Phi. Do sự khác biệt trong thành phần terpene nên tiêu đen không thay thế được tiêu lốp. Hương vị của tiêu lốp được xem là pha trộn giữa cay và ngọt. Tiêu lốp cay hơn tiêu đen nên người “ít ăn cay” nên thận trọng.

Tại Bắc Phi, nơi các vùng Hồi giáo (Bắc và Đông Phi Châu), tiêu lốp đã được các nhà buôn Ả Rập đem đến và trở thành một gia vị thông dụng dùng trong nhiều món ăn truyền thống địa phương, nhất là Maroc và Ethiopia.

Tại Maroc, tiêu lốp là một trong những gia vị tạo thành hỗn hợp “ras el hanout” dùng trong nhiều món ăn truyền thống.

Tại Ethiopia, tiêu lốp quan trọng hơn, dùng trong các món thịt hầm (wat), như bò hầm (siga wat), gà hầm (doro wat). Tiêu lốp được pha trộn với tiêu đen, đậu khấu, đinh hương và nghệ. Hỗn hợp trộn Berbere của Ethiopia gần tương tự với marsala của Ấn Độ, được dùng để ướp các món ăn từ thịt trừu.

Dân gian Việt Nam dùng tiêu lốp làm muối tiêu lốp, vừa là món ăn vừa là bài thuốc gia truyền, có vị rất thơm, cay nhẹ, có tính ấm, dễ tiêu, dùng tốt cho phụ nữ sau khi sinh và nuôi con nhỏ, người lớn tuổi, người ăn kiêng giảm cân, người ăn chay… Theo người xưa, tiêu lốp là bài thuốc gia truyền làm giảm bớt đau bụng.

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Tiêu

Thị trường tiêu Ấn Độ: Giá nội địa ổn định, giá xuất khẩu tăng nhẹ

Thị trường tiêu Ấn Độ – Giá hạt tiêu giao ngay tiếp tục ổn định mặc dù đã có sức mua từ khắp cả nước, theo tin từ Business Line.

Nguồn cung tiếp tục tăng cao từ Karnataka, nhưng ở mức giá cao hơn một chút theo nhu cầu tăng mạnh khắp cả nước. Bên cạnh đó, khách mua ngành công nghiệp và xuất khẩu cũng đang đẩy mạnh việc gom hàng.

Thương buôn đang tìm kiếm nguồn cung trong Dãy núi cao của bang Kerala cho rằng nông dân đang kỳ vọng giá sẽ tăng lên trên mức 700 Rupi/kg như họ đã bán hồi cuối năm ngoái. Trong khi thương buôn đến từ huyện Tamil Nadu trả tiêu có dung trọng cao với mức giá 585 – 590 Rupi/kg ngay tại ngưỡng cửa bằng tiền mặt và tự chuyển đi nhưng họ vẫn chưa sẵn sàng bán.

Hạt tiêu chuyển đến từ Dãy núi cao vẫn tiếp tục nhưng còn rất ít.

Hạt tiêu đã sơ chế loại có dung trọng 500 Gr được giao dịch với giá 565 Rupi/kg.

Trên thị trường kỳ hạn, có 62 tấn tiêu được chuyển đến, trong đó có 48 tấn là từ bang Karnataka và còn lại là tiêu đã qua sơ chế.

Giá giao ngay vẫn không đổi ở mức 55.500 Rupi/tạ (tương đương 8.898 USD/tấn) cho loại tiêu xô và 58.500 Rupi/tạ (tương đương 9.379 USD/tấn) cho tiêu đã sơ chế.

Trong khi đó, các hợp đồng đang hoạt động trên Sàn Hiệp hội Gia vị IPSTA tăng nhẹ. Cụ thể, hợp đồng tháng Năm và tháng Sáu tăng 493 Rupi/tạ lên lần lượt ở mức 59.500 Rupi/tạ và 59.497 Rupi/tạ (tương đương 9.539 USD/tấn và 9.538 USD/tấn).

Giá tiêu Ấn Độ xuất khẩu đang ở mức 9.800 USD/tấn (c&f) đối với châu Âu và 10.100 USD/tấn (c&f)  cho hàng đi Mỹ, tăng 150 USD/tấn so với tuần trước.

Giá tiêu Ấn Độ đã trở lại cạnh tranh trên thị trường quốc tế so với giá tiêu xuất xứ từ Việt Nam.

* Theo báo cáo của Tổng Cục Hải Quan, xuất khẩu trong tháng 3/2015 đạt 17.123 tấn tiêu các loại, với giá trị kim ngạch 154,57 triệu USD, tăng 42,0 % về lượng và tăng 42,4 % về giá trị so với tháng trước và giảm 19,0 % về lượng nhưng lại tăng 9,0 % về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong kỳ đạt 9.027 USD/tấn, tăng 0,31% so với giá xuất khẩu bình quân của tháng 2/2015.

*Tỷ giá 1 USD = 62,3751 Rupi

Chuyên mục
Nông nghiệp - Chăn nuôi Nông sản Ớt - Gừng Sức khỏe

Lợi ích tuyệt vời từ củ gừng

Mùa đông đang đến gần, gừng là thực phẩm bạn nên tích trữ một ít trong gian bếp của mình vì những công dụng tuyệt vời mà nó mang lại. 

Lợi ích tuyệt vời từ củ gừng
Lợi ích tuyệt vời từ củ gừng

Gừng chứa vitamin A, vitamin C, vitamin E, vitamin B, magiê, kali, phốt pho, silic, sắt, natri, canxi, kẽm và beta-carotene, nếu sử dụng thường xuyên sẽ rất tốt cho sức khỏe.

1. Giảm rối loạn tiêu hóa

Gừng được cho là một trong những phương pháp chữa trị hiệu quả nhất các vấn đề dạ dày. Gừng giúp giảm chướng bụng và đầy hơi.

Rối loạn dạ dày, đau bụng, tiêu chảy cũng có thể thuyên giảm khi thêm gừng vào chế độ ăn uống hàng ngày của bạn. Gừng còn là gia vị giúp các món ăn ngon miệng hơn, giúp người chán ăn cảm thấy thèm ăn bởi nó thúc đẩy sự đồng hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong máu.

2. Giảm say tàu xe

Nếu bạn dễ bị say tàu xe hay say sóng, gừng chính liều thuốc tuyệt đối an toàn và hiệu quả hơn để chặn đứng cảm giác khó chịu, buồn nôn. Gừng cũng là một thực phẩm khá tốt cho các bà mẹ đang mang thai giai đoạn đầu bởi gừng có khả năng giảm rủi ro dị tật bẩm sinh.

3. Giảm viêm và đau

Gừng tác dụng chống viêm. Các nghiên cứu cho thấy gừng có hiệu quả như thuốc giảm đau như giảm chứng đau nửa đầu, đau cơ, đau lưng và đau khớp.

Uống trà với một miếng nhỏ gừng là một cách đơn giản để giảm bớt nhức đầu và có một giấc ngủ ngon. Hoặc bạn có thể thêm một vài giọt tinh dầu gừng vào nước và ngâm trong bồn tắm trong 20 phút sẽ giúp giảm đau mỏi cơ bắp.

4. Ngăn chặn ung thư

Củ gừng có chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp ngăn ngừa ung thư. Một nghiên cứu cho thấy gừng có thể làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư đại trực tràng và giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư ruột kết.

Gừng cũng có thể giúp ngăn ngừa các loại ung thư, như ung thư vú, phổi, da, tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

5. Tăng hệ thống miễn dịch

Sử dụng gừng hàng ngày có thể bảo vệ bạn chống lại việc cảm cúm trong mùa đông. Uống trà chanh thêm chút gừng sẽ giúp bạn luôn khỏe mạnh trong mùa đông này.

6. Tăng hấp dẫn cho các món ăn

Gừng có hương vị tuyệt vời và là một thành phần không thể thay thế trong nhà bếp của bạn. Hương vị hơi ngọt và vị cay hấp dẫn mà nó mang lại cho bất kỳ món ăn hoặc đồ uống.

Gừng là gia vị hoàn toàn linh hoạt. Nó có thể được thêm vào các món tráng miệng, các bữa ăn chính, bắt đầu và đồ uống. Hoặc bạn có thể thêm gừng để gia cầm, thịt và cá để giảm mùi hôi và kích thích vị giác.

7. Giảm cân

Gừng thúc đẩy cảm giác no, có nghĩa là bạn cần ít calo nhưng vẫn cảm thấy no. Gừng là gia vị tốt từ tự nhiên giúp giảm chứng thèm ăn. Ngoài ra, gừng còn giúp tăng tốc độ trao đổi chất và đốt cháy chất béo trong quá trình giảm cân.

8. Giúp tăng ham muốn

Gừng có khả năng tăng độ nhạy cảm và lưu thông. Gừng giúp ra mồ hôi và kích thích nhu cầu trong chuyện ấy. Vì vậy, nếu bạn có kế hoạch một buổi tối lãng mạn ở nhà thì đừng quên cho gừng vào thực đơn của bạn.

Gừng có nhiều lợi ích sức khỏe bởi nó không gây dị ứng hay yêu cầu chế biến đặc biệt. Tuy nhiên, bạn không nên quá lạm dùng và chỉ nên dùng dưới 4 gram gừng mỗi ngày.

Chuyên mục
Nhịp sống Sống - yêu Sống trẻ Tâm sự

7 ý tưởng hẹn hò siêu tiết kiệm dành cho sinh viên

Nếu cả hai đều có điều kiện tài chính eo hẹp, không đủ tiền cho các chi phí đi lại, ăn uống đắt đỏ các bạn vẫn có thể có những phút giây ngọt ngào bên nhau với những ý tưởng hẹn hò “siêu tiết kiệm”.

1. Đi dạo ngoài trời
Hai bạn có thể đi bộ xuống phố, hoặc đi xe đạp đến vùng ngoại ô. Nếu nhà hay ký túc xá của bạn ở gần bãi biển, còn gì tuyệt vời hơn là các bạn có thể cùng nắm tay đi dọc bãi biển. Cả hai bạn có thể tận hưởng những giây phút ở bên nhau bên những và cùng nhau chia sẻ một số đồ ăn vặt như bim bim, đậu phộng, nước dừa.
2. Tham dự sự kiện văn hóa 
Ở nhiều thành phố, thị xã có rất nhiều sự kiện văn hóa được tổ chức tại hội trường hoặc nhà văn hóa như một buổi hoà nhạc, ca múa nhạc vv. Tại các thị xã nhỏ, hội chợ văn hóa cũng thường diễn ra. Hầu hết các sự kiện văn hóa đều được miễn phí vào cổng. Thông tin về các sự kiện như vậy có thể được lấy từ các tờ báo, trang web của thành phố/ thị xã. Các cặp đôi có thể tận dụng các cơ hội đó để dành thời gian cho nhau.
3. Một bữa tối tự nấu cùng nhau
Một bữa ăn tối lãng mạn không nhất thiết phải là một bữa tối dưới ánh nến trong nhà hàng đắt tiền với thực phẩm và thức uống xa hoa. Các cặp đôi có thể nấu ăn tối cùng nhau và cùng thưởng thức những món ăn tự nấu bên nhau.
4. Một buổi picnic ở công viên gần nhà/ký túc xá
Đối với những cặp đôi không đủ khả năng tài chính hay không có thời gian dành cho những kì nghỉ dài, hai bạn có thể lên kế hoạch cho một buổi dã ngoại với nhau hoặc với những người bạn thân trong công viên gần nhà. Các bạn có thể có thể mang theo một số đồ ăn nhẹ tự làm và tận hưởng những thời gian thú vị bên nhau với chi phí khá rẻ.
7 ý tưởng hẹn hò siêu tiết kiệm dành cho sinh viên
7 ý tưởng hẹn hò siêu tiết kiệm dành cho sinh viên
5. Đi dạo sau khi ăn tối
Sau khi ăn tối, các bạn có thể cùng nhau đi dạo trong những con đường gần nhau. Một không gian yên tĩnh và thanh bình giúp các cặp đôi có cơ hội tìm hiểu thêm về nhau và quên đi những bận rộn, lo lắng thường nhật.
6. Chia sẻ một vài sở thích
Thật tuyệt vời khi bạn có thể chia sẻ một số sở thích với người mình yêu như cùng làm vườn, cùng chơi nhạc, cùng sáng tác truyện, bài hát, làm thơ… Nếu cả hai đều quan tâm, các bạn có thể tập yoga, thiền, bơi… Những sở thích này không những khiến hai bản cảm thấy vui vẻ, sảng khoái và còn giúp hai bạn hiểu rõ về nhau hơn.
7. Chơi trò chơi cùng nhau
Có rất nhiều các trò chơi đơn giản như cờ caro, sudoku, giải ô chữ, Ai là triệu phú, Candy Crush… mà các cặp đôi có thể chơi cùng nhau. Dành thời gian chơi trò chơi cùng nhau sẽ khiến các bạn cảm thấy hứng khởi và không quá nhàm chán khi không biết nói gì với nhau.